Hôi Chứng Mạch Vành Cấp Không Có St Chênh Lên
Nhồi máu cơ tim
(NMCT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện và tử vong hiện
nay trên thế giới. Hơn 50% bệnh nhân NMCT cấp tử vong trong vòng một giờ đầu
trước khi được đưa đến bệnh viện. 1/3 các trường hợp nhập viện trong bệnh cảnh
hội chứng vành cấp là NMCT cấp có ST chênh lên. Nếu không được điều trị, 30%
bệnh nhân sẽ tử vong nhưng nếu được điều trị, tỉ lệ tử vong giảm còn 6 - 10%;
nếu có biến chứng cơ học thì tỉ lệ tử vong lên đến hơn 90%. Do đó, NMCT cấp là
một bệnh cảnh cấp cứu cần được chẩn đoán sớm và điều trị tích cực, kịp thời.
Theo định nghĩa
toàn cầu lần thứ tư: thuật ngữ nhồi máu cơ tim được sử dụng khi có tình trạng
tổn thương cơ tim cấp với bằng chứng lâm sàng của thiếu máu cơ tim cục bộ cấp
và sự tăng troponin với ít nhất một giá trị trên bách phân vị thứ 99, kèm theo
ít nhất một trong các yếu tố sau:
- Triệu chứng cơ năng của thiếu máu cơ
tim cục bộ.
- Thay đổi điện tâm đồ (ĐTĐ) kiểu thiếu
máu cục bộ mới.
- Có sóng Q bệnh lý. - Có bằng chứng
hình ảnh mới của cơ tim mất chức năng sống hoặc rối loạn vận động vùng trong
bệnh cảnh phù hợp với thiếu máu cục bộ.
- Ghi nhận có huyết khối động mạch vành
khi chụp mạch vành hoặc khi tử thiết. [3,4]
Cơ chế của
HCMVCKSTCL là sự không ổn định của mảng xơ vữa và mảng này bị nứt vỡ ra. Sự nứt
vỡ ra của mảng xơ vữa cũng gặp trong NMCT cấp, tuy nhiên mức độ và diễn biến có
khác nhau. Nếu sự nứt vỡ là lớn và hình thành máu đông ồ ạt lấp toàn bộ lòng
mạch sẽ dẫn đến NMCT xuyên thành, hay NMCT có ST chênh lên. Nếu sự nứt vỡ nhỏ
hơn và cục máu đông này chqa dẫn đến tắc hoàn toàn ĐMV thì đó là HCMVCKSTCL và
NMCT không sóng Q. Bên cạnh đó, các cơ chế về sự di chuyển của huyết khối nhỏ
đến tắc vi mạch phía sau và sự co thắt càng làm cho tình trạng thiếu máu cơ tim
thêm trầm trọng. Tuy nhiên, HCMVCKSTCL có thể diễn biến nặng và biến thành NMCT
thực sự.
Sự hình thành cục
máu đông: khi mảng xơ vữa bị vỡ, lớp dqới nội mạc đqợc lộ ra và tiếp xúc với
tiểu cầu, dẫn đến hoạt hoá các thụ thể GP IIb/IIIa trên bề mặt tiểu cầu và hoạt
hoá quá trình ngưng kết của tiểu cầu. Thêm vào đó, đám tiểu cầu ngqng kết này sẽ
giải phóng ra một loạt các chất trung gian làm co mạch và hình thành nhanh hơn
cục máu đông.
Hậu quả của các
hiện tượng trên là làm giảm nghiêm trọng và nhanh chóng dòng máu tới vùng cơ
tim do ĐMV đó nuôi dưỡng, và biểu hiện trên lâm sàng là cơn đau ngực không ổn
định, trên điện tim đồ có thể là hình ảnh thiếu máu cơ tim cấp với ST chênh
xuống hoặc T âm nhọn, các men tim loại Troponin có thể tăng khi có thiếu máu cơ
tim nhiều gây hoại tử vùng cơ tim xa và không phải là xuyên thành, khi có tăng
cả men CK - MB thì có thể gọi là NMCT không có sóng Q. Trong thực tế một số yếu
tố sau có thể làm nặng bệnh hơn: sốt, tăng huyết áp nhiều, rối loạn nhịp tim,
cường giáp. [3]
III.
CHẨN ĐOÁN
Triệu
chứng điển hình là đau ngực kiểu động mạch vành: đau thắt (bóp) nghẹt sau xương
ức, có thể lan lên vai trái, lên cằm, lên cả hai vai, cơn đau thường xuất hiện
sau một gắng sức nhưng đau có thể xảy ra cả trong khi nghỉ, có một số trường
hợp bệnh nhân không rõ triệu chứng đau mà chỉ là cảm giác tức nặng khó thở (đau
thầm lặng)...
- Khám lâm sàng giúp chẩn đoán phân
biệt với các bệnh như viêm màng ngoài tim, viêm phế quản, viêm khớp ức sườn,
các bệnh tim thực tổn kèm theo...
- Phát hiện các triệu chứng của suy
tim, tiếng T3, hở van tim...
1.2. Cận lâm sàng phục vụ chẩn đoán xác định
- Trong cơn đau có thể thấy sự biến đổi
của đoạn ST; thường gặp nhất là đoạn ST chênh xuống (nhất là kiểu dốc xuống), T
âm nhọn, đảo chiều, ST có thể chênh lên thoáng qua. Nếu ST chênh lên bền vững
hoặc mới có xuất hiện bloc nhánh trái thì ta cần phải nghĩ đến NMCT.
- Có tới trên 20% bệnh nhân không có
thay đổi tức thời trên ĐTĐ, nên làm ĐTĐ nhiều lần trong quá trình theo dõi và
điều trị.
1.2.2. Các chất chỉ điểm sinh học cơ tim:
Các
chất chỉ điểm sinh học cơ tim thường được dùng để chẩn đoán, phân tầng nguy cơ
và theo dõi là CK, CK-MB, Troponin T hoặc I. Tốt nhất là các xét nghiệm siêu
nhạy (như TroponinT hs hoặc I hs). Xét nghiệm chất chỉ điểm sinh học cơ tim
được tiến hành nhiều lần để đánh giá động học và diễn biến của bệnh.
Siêu
âm tim giúp đánh giá rối loạn vận động vùng (nếu có), đánh giá chức năng thất
trái (đặc biệt sau NMCT) và các bệnh lý thực tổn van tim kèm theo hoặc giúp cho
việc chẩn đoán phân biệt (với các nguyên nhân gây đau ngực khác). Trong những
trường hợp bệnh nhân có biến đổi điện tim, triệu chứng hoặc diễn biến bất
thường có thể làm siêu âm tim nhiều lần để đánh giá diễn biến, hoặc để đánh giá
tiến triển của bệnh sau can thiệp mạch vành.
1.2.4. Các nghiệm pháp gắng sức (điện tâm
đồ, siêu âm tim gắng sức)
Cần
chú ý là khi đã có chẩn đoán chắc chắn là HCMVCKSTCL thì không có chỉ định làm
các nghiệm pháp gắng sức do tính chất bất ổn của bệnh. Các nghiệm pháp này chỉ
đặt ra khi bệnh nhân ở nhóm nguy cơ thấp, lâm sàng không điển hình, không có
thay đổi trên ĐTĐ và đã điều trị ổn định.
Vì
mục đích của chụp ĐMV là để can thiệp ĐMV nếu có thể (xem phần điều trị), do
vậy, chụp động mạch vành trong HCMVCKSTCL được chỉ định ở nhóm bệnh nhân có
nguy cơ rất cao, cao hoặc vừa. Thời gian chỉ định chụp tùy mức độ phân tầng
nguy cơ. [3]
Chẩn
đoán phân biệt của HCMVC không ST chênh lên chính là chẩn đoán các nguyên nhân
đau ngực cấp:
- Nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên
(xem thêm phần chẩn đoán và điều trị NMCT có ST chênh lên phía sau).
- Tách thành động mạch chủ: đau ngực
sâu, lan sau lưng, kéo dài; chụp CT cho phép chẩn đoán xác định...
- Nhồi máu phổi: có thể ho ra máu; nhịp
tim nhanh, khó thở, điện tim có thể thấy hình ảnh S1Q3; D-Dimer tăng; chụp CT
cho phép chẩn đoán xác định.
- Viêm màng tim, tràn dịch màng tim:
đau rát bỏng, liên tục, thay đổi theo hô hấp; điện tim có thể thay đổi theo
giai đoạn, ST chênh lên đồng hướng ở các chuyển đạo cả trước tim và ngoại vi;
siêu âm tim cho phép chẩn đoán xác định, chụp cắt lớp vi tính giúp chẩn đoán
xác định và tìm một số nguyên nhân gây bệnh...
- Các nguyên nhân đau ngực do thành
ngực: viêm khớp ức sườn; thần kinh liên sườn...
- Tràn khí màng phổi cấp: chụp XQ ngực
và chụp cắt lớp vi tính để chẩn đoán xác định.
- Tràn dịch mảng phổi, viêm màng
phổi... :chụp XQ ngực và chụp cắt lớp vi tính để chẩn đoán xác định.
- Bệnh lý dạ dày, tiêu hóa: đặc biệt là
hội chứng trào ngược dạ dày thực quản... chẩn đoán phân biệt dựa vào nội soi dạ
dày hoặc chụp cắt lớp ổ bụng. [3]
3. Cận lâm sàng để phục vụ chẩn đoán nguyên nhân, theo
dõi điều trị và tiên lượng bệnh
Các
xét nghiệm sau đây có thể được chỉ định để chẩn đoán nguyên nhân, điều trị,
theo dõi các biến chứng và tiên lượng bệnh:
- Xét nghiệm huyết học và đông máu:
Tổng phân tích tế bào máu (Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, công thức
bạch cầu ...), đông máu (PT, APTT, Fibrinogen...), nhóm máu, HIV, HbsAg, HCV.
- Xét nghiệm sinh hóa máu: Glucose,
ure, creatinin, điện giải đồ, GOT, GPT, Cholesterol, Triglycerid, LDL - cho,
HDL - cho, Pro-BNP, protein, albumin....
- Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu.
- Chẩn đoán hình ảnh: Chụp Xquang ngực,
siêu âm màng phổi để loại trừ bệnh cảnh tràn khí, tràn dịch màng phổi. Chụp cắt
lớp vi tính lồng ngực để chẩn đoán phân biệt với bệnh U phổi, viêm phổi ...
Chụp cắt lớp vi tính động mạch chủ để chẩn đoán phân biệt với phình tách động
mạch chủ... Chụp cắt lớp vi tính hệ động mạch phổi để chẩn đoán phân biệt bệnh
cảnh nhồi máu phổi ... Siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng, nội soi dạ
dày giúp chẩn đoán phân biệt các trường hợp bệnh lý đường tiêu hóa có triệu chứng
giống HCMV cấp.
- Chụp động mạch vành qua da giúp chẩn
đoán xác định và can thiệp ĐMV nếu có chỉ định.
- Holter huyết áp, holter điện tim.
- Xạ hình tưới máu cơ tim: Đánh giá
sống còn cơ tim để giúp tiên lượng bệnh và lựa chọn chiến lược điều trị.
IV.
ĐIỀU TRỊ
- Điều trị nội khoa: Kháng tiểu cầu,
statin, các thuốc chống đông...., chiến lược điều trị nội khoa duy trì sau khi
ra viện.
- Điều trị tái tưới máu: Can thiệp động
mạch vành, mổ bắc cầu chủ vành...
- Điều trị các bệnh kèm theo hoặc biến
chứng của bệnh: suy tim, viêm phổi, rối loạn nhịp tim.... [1,3]
2.1. Sử dụng các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu
Phối
hợp hai loại: aspirin và một trong các thuốc ức chế thụ thể P2Y12 (chiến lược
sử dụng kháng tiểu cầu kép hay DAPT):
- Aspirin: liều nạp ngay 150 - 300 mg,
sau đó duy trì 75 - 100 mg/ngày (nên dùng liều 81 mg/ngày).
- Các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu
thuộc nhóm ức chế thụ thể P2Y12 của tiểu cầu: Hiện nay có ba thuốc nhóm này
được khuyến cáo dùng:
+ Ticagrelor: không phụ thuộc vào thuốc
nào thuộc nhóm này đã được sử dụng trước đó với liều nạp 180 mg sau đó dùng
liều 90 mg x 2 lần trong ngày. Biệt dược thường được dùng: Brillinta 90mg
+ Prasugrel với những BN chưa sử dụng
các thuốc ức chế P2Y12 và đang chuẩn bị làm can thiệp ĐMV qua da (60 mg liều
nạp, 10 mg hàng ngày).
+ Clopidogrel (600 mg liều nạp, 75 mg
hàng ngày). Biệt dược thường được sử dụng: Plavix 75mg, 300mg. [1,3]
Lựa chọn được một
trong các thuốc sau:
- Enoxaparin (Heparin trọng lượng phân
tử thấp): nên được ưu tiên lựa chọn, tiêm dưới da trong thời gian nằm viện cho
đến khi PCI được tiến hành. Liều thường dùng là 1 mg/kg tiêm dưới da (TDD) mỗi
12 giờ, giảm nửa liều ở bệnh nhân có suy thận với MLCT <30mL/phút. Biệt dược
thường được sử dụng là Lovenox.
- Bivalirudin (thuốc ức chế trực tiếp
thrombin): được cho đến khi tiến hành chụp mạch chẩn đoán hoặc PCI ở những BN
chỉ được điều trị can thiệp sớm. Liều nạp 0,10 mg/kg, liều nạp tiếp theo 0.25
mg/kg/h.
- Fondaparinux (thuốc ức chế chọn lọc
yếu tố Xa): TDD trong thời gian nằm viện cho đến khi tiến hành PCI. 2,5 mg TDD
hàng ngày. Chú ý khi can thiệp ĐMV cần cho heparin đầy đủ tránh huyết khối ống
thông.
- Heparin không phân đoạn: tiêm TM
trong 48 giờ hoặc cho đến khi tiến hành PCI. Liều nạp đầu 60 IU/ kg (tối đa
4000 IU) với liều truyền đầu tiên 12 IU/kg/h (tối đa 1000 IU). [1,3]
2.3. Các thuốc ức chế thụ thể Glycoprotein Ilb/IIIa của
tiểu cầu
Các loại thuốc và liều dùng: 2 loại loại hiện nay đang
được dùng phổ biến:
- Eptitìbatid (Intergrilin): Liều dùng
tấn công 180 mcg/kg tiêm thẳng TM sau đó truyền TM 1,3 - 2,0 mcg/phút trong 12
giờ tiếp theo.
- Tirotìban (Aggrastat): Liều dùng tấn
công 0,6 mcg/kg/phút truyền TM trong 30 phút sau đó truyền TM 0,15 mcg/kg/phút
trong 12 -24 giờ tiếp theo. [1,3]
2.4. Các biện pháp, thuốc điều trị nội khoa khác kèm theo
- Thở Oxy khi độ bão hòa Oxy giảm, suy
hô hấp, hoặc khi có các đặc điểm nguy cơ cao bị thiếu Oxy máu.
- Nitroglycerin: Sử dụng Nitroglycerin
dưới lưỡi mỗi 5 phút x 3 lần cho đau ngực liên tục do thiếu máu cơ tim và sau
đó nên dùng Nitroglycerin đường tĩnh mạch nếu bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu
cơ tim kéo dài, tăng huyết áp, suy tim, đau ngực nhiều, phù phổi cấp, hoặc
không có nitroglycerin đường dưới lưỡi.
- Giảm đau: Morphin Sulfate tiêm TM để
giảm đau ngực.
- Thuốc chẹn beta giao cảm (BB): Nên sử
dụng thuốc BB đường uống trong vòng 24 giờ nếu không có tình trạng suy tim cấp,
tình trạng cung lượng thấp; nguy cơ bị sốc tim hoặc các chống chỉ định khác.
Các thuốc BB được khuyến cáo sử dụng là Metoprolol, Carvedilol hoặc Bisoprolol.
- Các thuốc chẹn kênh calci (CCB): Điều
trị khởi đầu bằng CCB nhóm Nondihydropyridine với trường hợp thiếu máu cơ tim
tái phát và chống chỉ định với thuốc BB ở những BN không có rối loạn chức năng
thất trái, không có tăng nguy cơ bị sốc tim PR > 0,24 giây hoặc block nhĩ
thất độ 2-3 không có máy tạo nhịp. CCB loại tác động kéo dài được khuyến cáo ưu
tiên ở nhóm có co thắt ĐMV.
- Thuốc ức chế hệ renin - angiotensin -
aldosteron (ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể ATI): nên được bắt đầu sử
dụng và kéo dài vô hạn ở tất cả các bệnh nhân có phân số tống máu thất trái
giảm và ở những BN có tăng HA, đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn ổn định, trừ
khi có chống chỉ định.
- Thuốc lợi tiểu: Thuốc kháng
Aldosterone được khuyến cáo sử dụng ở những BN sau NMCT không có rối loạn chức
năng thận đáng kể như: (Creatinine >2,5 mg/dL ở nam hoặc > 2,0 mg/dL ở
nữ) hoặc tăng Kali máu (Kali >5,0 mEg/L), những BN đang sử dụng thuốc ƯCMC
và BB liều điều trị và có phân số tống máu thất trái giảm, đái tháo đường, hoặc
suy tim. Nhóm thuốc lợi tiểu quai chỉ định khi bệnh nhân đang có tình trạng suy
tim, phù phổi cấp.
- Điều trị rối loạn lipid máu: Bắt đầu hoặc tiếp tục sử dụng liệu pháp điều trị Statin
tích cực cường độ cao ở những BN không có chống chỉ định bất kể nồng độ LDL
cholesterol trước đó như thế nào. Statin cường độ cao nên sử dụng là
atorvastatin (40-80 mg) hoặc rosuvastatin (20- 40 mg). Biệt dược thường được sử
dụng là Lipitor và crestor.
- Tăng sức bền tế bào cơ tim, tăng tuần
hoàn tại cơ tim: FDP (Fructose-1,6- Diphosphate Trisodium): Liều dùng hàng ngày
thay đổi từ 70mg bột thuốc/kg thể trọng tới 160mg bột thuốc/kg thể trọng (người
lớn từ 1-2 lọ FDP 5g/ngày).
- Một số thuốc điều trị khác: PPI giúp
giảm nguy cơ xuất huyết. Có thể lựa chọn Omeprazol, Pantoprazol, Esomeprazol
.... [1,3]
- Tổn thương gây hẹp > 70% lòng mạch
và có giải phẫu phù hợp với đặt stent động mạch vành.
- Tổn thương bóc tách lòng động mạch
vành có triệu chứng lâm sàng hoặc ảnh hưởng tới dòng chảy động mạch vành.
- Tổn thương hẹp từ 50 - 70% lòng động
mạch vành mà có bằng chứng thiếu máu như nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu
cơ tim.
- Tổn thương hẹp động mạch vành có FFR
< 0.75. [3]
2.6. Phẫu thuật cầu nối chủ - vành
- Tổn thương nhiều nhánh ĐMV mà đoạn xa
còn tốt, không phù hợp với can thiệp động mạch vành.
- Tổn thương thân chung ĐMV trái mức độ
nặng không phù hợp với can thiệp động mạch vành.
- Các tổn thương quá phức tạp (vôi hóa,
xoắn vặn, gập góc, chỗ chia nhánh...) mà việc can thiệp nong hoặc đặt stent
không khả thi hoặc lợi ích không tốt.
2.7. Điều trị lâu dài lúc ra viện và sau khi ra viện
- Thay đổi lối sống ngăn ngừa các yếu
tố nguy cơ bệnh tim mạch với chế độ ăn uống tập luyện hợp lý, bỏ thuốc lá, hạn
chế rượu bia.... Điều chỉnh tốt các yếu tố nguy cơ như điều trị tốt tăng huyết
áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu nếu có...
- Sử dụng kháng tiểu cầu kép (DAPT) và
kháng tiểu cầu đơn tiếp theo:
+ Với bệnh nhân có tiền sử chảy máu
(tiêu hóa, xuất huyết não...), hoặc trong thời gian dùng DAPT có chảy máu, hoặc
kèm theo thiếu máu, người già yếu, gầy gò hoặc đánh giá thang điểm PRECISE -
DAPT nếu thang điểm này > 25... thì nên rút ngắn thời gian dùng kháng tiểu
cầu kép (DAPT) trong 6 tháng thậm chí 3 tháng sau đó chỉ dùng một loại kháng
tiểu cầu đơn (aspirin).
+ Với bệnh nhân nguy cơ chảy máu thấp
(không có các yếu tố trên) và nguy cơ tắc mạch cao nhất là bệnh nhân có tổn
thương ĐMV phức tạp, được đặt stent thân chung ĐMV trái hoặc đặt nhiều stent
hoặc có tiền sử huyết khối trong stent... thì nên dùng DAPT kéo dài, có thể
trên 12 tháng và lâu hơn nữa nếu có thể.
- Statin cường độ cao, lâu dài (suốt
đời), theo dõi chức năng gan và các tác dụng phụ khác.
- Điều trị giảm đau thắt ngực: nitrate;
chẹn beta; chẹn kênh calci tiếp theo điều trị đã sử dụng trong viện như phần
trên và như trong khuyến cáo với bệnh lý ĐMV ổn định.
- Dùng chẹn beta giao cảm kéo dài, dùng
các thuốc ức chế hệ renin angiotensin, lợi tiểu theo chỉ định. [3]
- Bệnh nhân đỡ đau ngực hoặc hết tình
trạng đau ngực khi nghỉ.
- Triệu chứng cơ năng giảm: Đỡ khó thở,
đi tiểu được, cải thiện khả năng gắng sức....
-
Các chỉ số sinh tồn ổn định, không có bất thường.
-
Cải thiện tình trạng lâm sàng so với thời điểm vào viện.
V. TIẾN TRIỂN, CÁC BIẾN CHỨNG VÀ XỬ TRÍ
Sốc
tim được định nghĩa là tình trạng huyết áp thấp (huyết áp tâm thu < 90 mmHg)
dù đổ đầy thất trái đầy đủ kèm dấu hiệu của giảm tưới máu mô. Đây là một biến
chứng nặng, thường xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu của nhồi máu cơ tim, tử vong
trên 50%. Biểu hiện lâm sàng: huyết áp thấp, giảm cung lượng tim (rối loạn tri
giác, thiểu hoặc vô niệu, lạnh đầu chi, nhịp tim nhanh), sung huyết phổi.
Điều
trị: xem xét sử dụng thuốc vận mạch (noradrenaline) và tăng co bóp cơ tim
(dobutamin) duy trì huyết áp tâm thu > 90 mmHg, xem xét chụp và can thiệp
mạch vành sớm. Có thể phối hợp Dopamin nếu noradrenaline không có, trong các
trường hợp sốc nặng có thể phối hợp thêm adrenalin. Ngoài các phương pháp điều
trị trên có thể tiến hành thêm các biện pháp hỗ trợ khác như đặt bóng đối xung
động mạch chủ, oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể (ECMO), kỹ thuật picco trong
theo dõi huyết động. [3]
Rung
nhĩ là rối loạn nhịp trên thất thường gặp nhất, chiếm 21% các trường hợp nhồi
máu cơ tim.
Sốc
điện chuyển nhịp khi bệnh nhân có: rối loạn huyết động, thiếu máu cục bộ tiến
triển hoặc suy tim tiến triển. Nếu bệnh nhân không có các biểu hiện này, có thể
sử dụng amiodarone tiêm tĩnh mạch khi bệnh nhân có suy tim cấp không kèm huyết
áp thấp. Nếu huyết áp thấp, có thể sử dụng digoxin tiêm tĩnh mạch.
Sau
giai đoạn NMCT cấp, nếu rung nhĩ trở thành rung nhĩ kéo dài hoặc rung nhĩ vĩnh
viễn thì xem xét điều trị kháng đông đường uống lâu dài. [3]
Thường
gặp nhất là nhịp nhanh thất đa hình dạng hoặc nhanh thất thoái triển thành rung
thất, hoặc ngoại tâm thu thất. Điều trị bao gồm:
- Xem xét điều trị tái tưới máu sớm.
- Sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm sớm
nếu không có chống chỉ định.
- Sử dụng amiodarone hoặc lidocain để
xóa nhanh thất:
Amiodarone:
150 mg tiêm tĩnh mạch chậm trong 10 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục
1mg/phút trong 6 giờ, sau đó giảm liều còn 0,5mg/phút. Lidocain: 1 mg/kg tiêm
tĩnh mạch, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục 1 - 4 mg/phút.
- Điều chỉnh rối loạn điện giải (nếu
có), giữ kali máu = 4,5-5 mmol/L và magie máu >2 mmol/L.
- Nếu các biện pháp trên không đáp ứng
xem xét đặt máy tạo nhịp tạm thời để “Kích thích tim vượt tần số điều trị rối
loạn nhịp” [3]
Nhịp
chậm xoang và block nhĩ thất độ I thường gặp trong vòng vài giờ đầu của NMCT,
đặc biệt là NMCT thành dưới (phản xạ Bezold-Jarisch) và thường không cần điều
trị, sẽ tự hồi phục sau tái tưới máu. Nếu nhịp chậm gây huyết áp thấp: điều trị
bằng atropin. Block nhĩ thất độ II Mobitz I: thường không cần điều trị. Nếu gây
rối loạn huyết động thì sử dụng atropin. Đặt máy tạo nhịp khi thất bại với
atropin.
Block nhĩ thất độ
II Mobitz II và block nhĩ thất độ III: đặt máy tạo nhịp.
Tiến
hành đặt máy tạo nhịp tạm thời, sau đó theo dõi nếu nhịp tim tự hồi phục không
cần đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn, nếu trong trường hợp nhịp tim không tự hồi phục
thì phải tiến hành đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. [3]
Các
biến chứng cơ học như thủng vách liên thất, vỡ thành tự do, hở van 2 lá cấp do
đứt cơ nhú là những biến chứng nặng, tỷ lệ tử vong cao, thường xuất hiện từ
ngày 2 đến ngày 7 của NMCT, tuy nhiên có thể xuất hiện trong 24 giờ đầu tiên.
Khi bệnh nhân đột ngột có huyết áp thấp, phù phổi cấp, đau ngực trở lại, có âm
thổi mới xuất hiện thi nên nghĩ ngay đến biến chứng cơ học. Siêu âm tim giúp hỗ
trợ chẩn đoán. Điều trị chủ yếu là hỗ trợ huyết động, đặt bóng đối xung trong
lúc chờ phẫu thuật. Can thiệp phẫu thuật sớm có thể giảm tỉ lệ tử vong. [3]
Viêm
màng ngoài tim sớm xuất hiện trong vài ngày đầu của NMCT trong khi viêm màng
ngoài tim muộn (hội chứng Dressler) xuất hiện sau 1 - 2 tuần.
Điều
trị: aspirin 500 - 1000 mg mỗi 6 - 8 giờ trong 1 - 2 tuần. Không được sử dụng
corticoid hoặc các thuốc kháng viêm NSAIDS khác vì làm gia tăng nguy cơ vỡ tim
tại vùng nhồi máu và làm chậm lành sẹo ổ nhồi máu. Rút dịch màng tim khi tràn
dịch màng tim gây khó thở hoặc chèn ép tim. [3]
- Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có thể
thay đổi được: ngưng hút thuốc lá, giảm cân nếu béo phì, tăng cường tập luyện
thể dục thể thao.
- Kiểm soát huyết áp nếu có tăng huyết
áp
- Điều trị rối loạn lipid máu theo các
khuyến cáo
- Kiểm soát đường huyết và HbA1c cho
bệnh nhân đái tháo đường. Cân nhắc sử dụng các thuốc hạ đường huyết có tác dụng
giảm biến cố tim mạch như ức chế SGLT2, đồng vận GLP-1.
VII. TIÊU CHUẨN
NHẬP VIỆN NỘI TRÚ
- Tất cả các trường hợp chẩn đoán xác
định theo tiêu chuẩn trên là nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên, hội chứng
mạch vành cấp không ST chênh lên.
- Các trường hợp nghi ngờ nhồi máu cơ
tim cấp, hội chứng mạch vành cấp khi chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán cần phải nhập
viện để theo dõi, chẩn đoán và điều trị.
- Các trường hợp cần phải chẩn đoán
phân biệt với nhồi máu cơ tim cấp, hội chứng mạch vành cấp: như nhồi máu phổi,
phình tách động mạch chủ....
MỘT SỐ MÃ ICD PHỤC VỤ CHO CHUẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
|
STT |
MÃ BỆNH |
TÊN BỆNH |
GHI CHÚ |
|
1 |
I20 |
Cơn đau
thắt ngực |
|
|
2 |
I20.0 |
Cơn đau
thắt ngực không ổn định |
|
|
3 |
I21 |
Nhồi máu
cơ tim cấp |
|
|
4 |
I21.0 |
Nhồi máu
cơ tim trước vách cấp xuyên thành của thành trước |
|
|
5 |
I21.1 |
Nhồi máu
cơ tim xuyên thành cấp của thành dưới |
|
|
6 |
I21.2 |
Nhồi máu
xuyên thành cấp ở vị trí khác |
|
|
7 |
I21.3 |
Nhồi máu
cơ tim xuyên thành cấp không rõ vị trí |
|
|
8 |
I21.4 |
Nhồi máu
cơ tim dưới nội tâm mạc cấp |
|
|
9 |
I21.9 |
Nhồi máu
cơ tim cấp, không đặc hiệu |
|
|
10 |
I22 |
Nhồi máu
cơ tim tiến triển |
|
|
11 |
I22.0 |
Nhồi máu
cơ tim tiến triển của thành trước |
|
|
12 |
I22.1 |
Nhồi máu
cơ tim tiến triển của thành dưới |
|
|
13 |
I22.8 |
Nhồi máu
cơ tim tiến triển ở vị trí khác |
|
|
14 |
I22.9 |
Nhồi máu
cơ tim tiến triển ở vị trí không xác định |
|
|
15 |
I23 |
Một số
biến chứng thường gặp sau nhồi máu cơ tim cấp |
|
|
16 |
I23.0 |
Biến
chứng tràn máu màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) |
|
|
17 |
I23.1 |
Biến
chứng thủng vách liên nhĩ xảy ra sau NMCTC |
|
|
18 |
I23.2 |
Biến chứng thủng vách liên thất sau NMCTC |
|
|
19 |
I23.3 |
Biến chứng nứt thành tim không có tràn máu màng ngoài tim
sau NMCTC |
|
|
20 |
I23.4 |
Biến chứng đứt dây chằng van hai lá sau NMCTC |
|
|
21 |
I23.5 |
Biến chứng đứt cơ nhú sau NMCTC |
|
|
22 |
I23.6 |
Biến chứng huyết khối trong buồng tim tâm nhĩ, tiểu nhĩ
và tâm thất sau NMCTC |
|
|
23 |
I23.8 |
Biến chứng khác xảy ra sau NMCTC |
|
|
24 |
I24 |
Bệnh tim do thiếu máu cục bộ cấp khác |
|
|
25 |
I24.0 |
Huyết khối mạch vành không gây nhồi máu cơ tim (NMCT) |
|
|
26 |
I24.1 |
Hội chứng Dressler |
|
|
27 |
I25.2 |
Nhồi máu cơ tim cũ |
|
|
28 |
I26 |
Tắc mạch phổi |
|
|
29 |
I26.0 |
Thuyên tắc phổi có tâm phế cấp |
|
|
30 |
I26.9 |
Thuyên tắc phổi không có tâm phế cấp |
|
|
31 |
I44.0 |
Blốc nhĩ thất độ I |
|
|
32 |
I44.1 |
Blốc nhĩ thất độ II |
|
|
33 |
I44.2 |
Blốc nhĩ thất, hoàn toàn |
|
|
34 |
I44.3 |
Blốc nhĩ thất khác và không xác định |
|
|
35 |
I47.0 |
Loạn nhịp thất do cơ chế vòng vào lại |
|
|
36 |
I47.1 |
Nhịp nhanh trên thất |
|
|
37 |
I47.2 |
Nhịp nhanh thất |
|
|
38 |
I47.9 |
Nhịp nhanh kịch phát, không đặc hiệu |
|
|
39 |
I48 |
Rung nhĩ và cuồng nhĩ |
|
|
40 |
I48.0 |
Rung nhĩ kịch phát |
|
|
41 |
I48.1 |
Rung nhĩ dai dẳng |
|
|
42 |
I48.2 |
Rung nhĩ mạn tính |
|
|
43 |
I48.3 |
Rung nhĩ điển hình |
|
|
44 |
I48.4 |
Cuồng nhĩ không điển hình |
|
|
45 |
I49.3 |
Ngoại tâm thu thất |
|
|
46 |
I50 |
Suy tim |
|
|
47 |
I50.0 |
Suy tim sung huyết |
|
|
48 |
I50.1 |
Suy thất trái |
|
|
49 |
I50.9 |
Suy tim, không đặc hiệu |
|
1.
2015 ESC guidelines for the
management of acute coronary syndromes in patients presenting without
persistent ST-segment elevation.
2.
Khuyến
cáo về chẩn đoán và điều trị Hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên 2016,
Hội Tim mạch học Việt Nam.
3.
Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí hội
chứng vành cấp năm 2019, quyết định 2187/QĐ- BYT, Bộ Y Tế.
Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh động mạch
vành, quyết định 5332/QĐ- BYT, Bộ Y Tế, ban hành ngày 23/12/2020.
Nhận xét
Đăng nhận xét