Cơn Nhịp Nhanh Kịch Phát Trên Thất
1. KHÁI NIỆM
Cơn nhịp nhanh
kịch phát trên thất là một thuật ngữ rộng bao hàm nhiều loại rối loạn nhịp
nhanh có cơ chế và nguồn gốc khác nhau. Trước đây một cơn tim nhanh QRS hẹp,
đều, xuất hiện đột ngột ở một người không có bệnh tim thực tổn được gọi là bệnh
Bouveret.Ngày nay với những tiến bộ của thăm dò điện sinh lý học người ta đã
hiểu được các cơ chế gây ra các cơn nhịp nhanh và từ đó đưa ra các cách phân
loại cơn nhịp nhanh trên thất cũng như phương pháp điều trị hiệu quả nhất
[1][2].
Lâm sàng phụ thuộc
vào tần số nhịp nhanh, huyết áp và kết quả tưới máu tổ chức, các bệnh đi kèm và
sự nhạy cảm của bệnh nhân. Có thể có triệu chứng sau:
- Đầu óc quay cuồng hay chóng mặt.
- Bệnh nhân thường trong trạng thái
hoảng sợ, lo lắng.
- Nhịp nhanh đôi khi là dấu hiệu duy
nhất ở bênh nhân khỏe mạnh và dự trữ huyết động tốt [3].
- Bệnh nhân có dự trữ huyết động kém có
thể có khó thở nhanh và tụt huyết áp, ran ở phổi, tiếng tim T3 và tĩnh mạch cổ
nổi.
Cần thực hiện ngay
khi có thể. Phân tích ECG cho phép xác định nhịp nhanh và phân loại các loại
nhịp nhanh trên thất gồm:
2.1.1. Các nhận định chung dấu hiệu ECG của
nhịp nhanh trên thất [2]
- Cơn tim nhanh thường khởi phát và kết
thúc đột ngột, cơn có thể từ vài giây, vài phút đến nhiều giờ, nhiều ngày [1].
-
Cơn thường được khởi phát do một ngoại tâm thu nhĩ hoặc
ngoại tâm thu thất.
-
Tần số tim thường từ 140 - 250 nhịp/phút, rất đều.
+ Hình dạng: thường khác với P cơ sở. Trừ nhịp nhanh vào lại
tại nút xoang.
+ P âm ở D2 D3 aVF (nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất)
+ Vị trí: sóng P có thể không nhìn thấy
vì chồng lên phức bộ QRS và bị che khuất trong phức bộ QRS. Sóng P trong một số
trường hợp nhô ra ở phần cuối của phức bộ QRS tạo ra hình ảnh “giả sóng r’” ở
V1 và “giả sóng s’” ở D2, D3, aVF, làm trông giống hình ảnh blốc nhánh phải
không hoàn toàn (trong AVNRT) [2].
+ Sóng P có thể tách khỏi QRS và đi sau
QRS, rơi vào đoạn ST với RP < PR (AVRT do dường phụ nhĩ - thất và vòng vào
lại chiều xuôi).
- Phức bộ QRS: Trong cơn nhịp nhanh
thường hẹp < 0.12giây, có hình dạng giống QRS cơ sở lúc nhịp xoang. Tuy
nhiên những trường hợp sau QRS giãn rộng:
+ Có blốc nhánh từ trước.
+ Nhịp nhanh trên thất có dẫn truyền lệch hướng.
2.1.2. Nhịp nhanh vào lại tại nút nhĩ thất
(AVNRT) [3][4]
-
Sóng P lẫn vào trong QRS hay ngay sau QRS.
-
Khoảng RP ngắn trong nhịp nhanh vào lại tại nút nhĩ thất
điển hình và RP dài trong nhịp nhanh vào lại tại nút nhĩ thất không điển hình.
2.1.3. Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT)
-
Đặc trưng bằng đường phụ ngoài nút nối với nhĩ và thất.
-
Có sóng delta trong quá trình nhịp xoang nếu có dẫn truyền
xuôi qua đường phụ, đưa đến chẩn đoán hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW).
-
Sóng delta không có trong orthodromic AVRT, loại này
thường gặp nhất ở các bệnh nhân WPW (chiếm 90% loạn nhịp này) tần số
150-250/phút, QRS hẹp trong dạng nhịp nhanh thể orthodromic.
-
Có sóng delta làm QRS rộng trong dạng nhịp nhanh thể
antidromic (10%).
-
Sau khi kết thúc cơn nhịp nhanh cần đo ECG trong nhịp
xoang để sàng lọc hội chứng WPW.
2.1.4. Nhịp nhanh nhĩ đa ổ (MAT)
- Có > 3 sóng P có hình dạng và PR
khác nhau.
- Thường hay gặp ở các bệnh nhân có
bệnh phế quản tắc nghẽn mãn tính.
- Có thể sử dụng theophyllin là yếu tố
thúc đẩy.
- CK-MB, Tnl, có thể Pro- BNP.
-
Holter ECG trong trường hợp chưa phân định được cơn nhịp
nhanh hoặc cần thêm các bằng chứng về rối loạn nhịp khác.
III.
- Thăm dò điện sinh lý tim : giúp chẩn đoán cơ chế nhịp
nhanh trên thất, vị trí con đường phụ và vòng vào lại. Thường làm kết hợp với
quá trình can thiệp điện sinh lý như loại trừ các đường phụ và các ổ loạn nhịp
bằng năng lượng tần số radio (RFA).
IV. ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị:
- Điều trị duy trì dự phòng cơn nhịp
nhanh tái phát
- Điều trị nguyên nhân gây cơn nhịp
nhanh
1.1 Điều trị cấp cứu cắt
cơn nhịp nhanh
1.1.1 Trường hợp nhịp nhanh trên thất có
huyết động không ổn định [2]
Bệnh
nhân có tụt huyết áp: huyết áp tâm thu <90mmHg. Trường hợp bệnh nhân có tăng
huyết áp, huyết áp tâm thu giảm > 40 mmHg so với huyết áp trước cơn được coi
như rối loạn huyết động.
Chuyển nhịp bằng
sốc điện đồng bộ ngay: năng lượng khởi đầu 50 J đến 100 J.
1.1.2. Trường hợp huyết động ổn định [1][2]
Việc điều trị cấp
cứu được thực hiện theo các bước, gồm:
Các thủ thuật cường phế vị:
+ Không thực hiện nếu bệnh nhân: có
ngất xoang cảnh, có tiền sử tai biến mạch máu não thoáng qua, bệnh lý động mạch
cảnh, người vừa có nhồi máu cơ tim trước đó 6 tháng và > 65 tuổi.
+ Bệnh nhân nằm ngửa, quay mặt về đối
bên, xoa nhẹ nhàng từng bên từ 10 - 20s, sau đó chuyển sang bên kia.
+
Không nên tiến
hành xoa đồng thời hai bên.
+ Hít thở thật sâu, rồi thở ra thật
mạnh, trong khi không cho khí ra ngoài bằng đóng nắp thanh môn. Thủ thuật này
có thể làm bằng cách cho bệnh nhân thổi thật nhanh và mạnh vào đầu ống cao su
của máy đo huyết áp đồng hồ sau khi bỏ quả bơm ra và buộc chặt băng quấn của
máy đo. Thổi khi kim chỉ áp lực lên trên 40 mmHg là đạt yêu cầu.
+ Tác dụng của xoa xoang cảnh và
Valsava sẽ tăng nếu bệnh nhân đã được dùng digitalis và các thuốc chống loạn
nhịp khác trước đó.
+ Các thủ thuật như ấn nhãn cầu: nuốt
một miếng bánh to, chúng tôi khuyên không nên làm.
+ Trong quá trình trên cần theo dõi
trên monitoring điện tâm đồ, ghi lại hoặc nghe tim để xử lý các trường hợp nhịp
quá chậm hoặc vô tâm thu sau cơn nhịp nhanh, khi cần đấm vào trước tim để kích
thích tim đập trở lại tránh cơn ngừng kéo dài và cho các thông tin để xác định
chẩn đoán.
Các
thuốc cắt cơn [1][2]
Adenosin: là một thuốc có tác dụng gây cường
phế vị mạnh, làm chậm dẫn truyền, gây blốc ở nút nhĩ thất phá vỡ được vòng vào
lại cắt được cơn nhanh trên thất:
-
Thuốc có nửa đời sống rất ngắn < 10s và thải trừ hoàn
toàn khỏi huyết tương trong 30s nên phải tiêm tĩnh mạch thật nhanh (1-2s).
-
Thuốc có thể gây ngừng tim ngắn vài giây hoặc nhịp chậm
sau khi cắt cơn.
-
Tác dụng phụ: gây cảm giác bồn chồn khó chịu.
+ Tiêm tĩnh mạch 1 ống - 6mg.
+ Nếu không kết quả sau 2-3 phút tiêm liều thứ 2 hoặc thứ 3
là 12mg. Nếu sau
3
liều không kết quả thì chuyển thuốc khác.
-
Nên chuẩn bị atropin để đề phòng nhịp quá chậm (0,5-1mg
tiêm TM).
+ Những trường hợp có hội chứng nút xoang bệnh lý.
+ Những trường hợp đã dùng các thuốc ức chế nút xoang hoặc
nút Tawara.
+ Chống chỉ định tuyệt đối ở bệnh nhân hen phế quản.
+ Nếu sau khi tiêm bệnh nhân có vô tâm
thu trên monitor hoặc ngất cần đấm mạnh vào vùng trước xương ức cho tim đập trở
lại.
Verapamil (Isoptin - ống 5mg): tiêm tĩnh mạch
chậm trong 2-3phút, liều lượng: 2,5mg/lần, nếu cần thiết có thể tiêm thêm các
liều 2,5mg/lần sau 15 -30phút, khi tình trạng huyết động ổn định.
-
Verapamil làm giảm sức co bóp cơ tim rất mạnh nên chỉ dùng
cho những trường hợp chức năng tim tốt và huyết động ổn định.
+ Suy tim.
+ Huyết áp thấp.
+ Tiền sử có hội chứng nhịp nhanh chậm.
+ Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất chiều ngược (hội chứng WPW
điển hình). Diltiazem: liều 0,25mg/kg, tĩnh mạch chậm. Thuốc
này ức chế sự co bóp cơ tim ít hơn Verapamil. Nếu liều trên không cắt được cơn
có thể cho liều 0,35mg/kg sau 15-30 phút nếu cần thiết và sau đó truyền
5-15mg/giờ.
-
Chống chỉ định: Tương tự như Verapamil Chẹn beta giao cảm: Amiodanone (biệt dược: Cordarone, Sedacorone...
ống 150mg).
-
Tiêm tĩnh mạch chậm: trong trường hợp cần cắt cơn nhanh,
nhưng chỉ dùng khi chức năng tim còn tốt, huyết động ổn định.
-
Thông thường và an toàn: pha 1 ống (150mg) + 20ml (bơm
tiêm điện) đến 50 ml (không có bơm tiêm điện) huyết thanh đẳng trương truyền
tĩnh mạch chậm trong 10 phút đến 15 phút.
-
Truyền tĩnh mạch: 2 ống liều 5mg/kg. ở người lớn thường
dùng 2 ống (300mg) pha trong 100-150ml huyết thanh đẳng trương truyền TM nhanh
trong khoảng 60 phút. Không nên pha nồng độ thấp và truyền chậm vì hiệu quả cắt
cơn thấp.
-
Tuy ít làm giảm sức co bóp cơ tim nhưng do dùng tiêm tĩnh
mạch chậm hoặc truyền nhanh có thể một số trường hợp hạ huyết áp nên cần theo
dõi huyết động khi sử dụng Cordarone đường tĩnh mạch.
Dronedarone: tương tự như amiodarone nhưng không
gây độc với gan, thận.
-
Chống chỉ định: suy tim nặng.
Digitalis: là thuốc có hiệu quả và an toàn nhưng cần mất vài giờ để
có tác dụng.
- Liều lượng: Digoxin 0,5mg; Isolanide,
Cedilanide 0,4mg tiêm tĩnh mạch, sau 4- 6 giờ có thể cho lại nếu cần hoặc sau
đó 0,25 - 0,125mg cứ 2-4h/lần. Tổng liều 1- 1,25mg/ngày.
- Với trẻ nhỏ nên dùng digitalis trước
tiên nếu như các thủ thuật cường phế vị thất bại.
- Nên dùng digitalis trong trường hợp
cơn tim nhanh có kèm suy tim Amiodarone, Ibutinide, Procainamide (TM),
Flecainide (TM) là những
thuốc được lựa chọn trong nhịp nhanh
trên thất tiền kích thích.
Các biện pháp cắt cơn nhịp nhanh trên thất khác [2][4]
Tạo nhịp
Thường được chỉ định khi các biện
pháp trên không hiệu quả. Máy tạo nhịp phát ra một loạt các xung động với mục
đích một trong các xung động đó xâm nhập được vào vòng vào lại và như vậy sẽ
phá vỡ vòng vào lại làm cắt được cơn tim nhanh. Tạo nhịp cắt cơn tim nhanh trên
thất có thể:
- Tạo nhịp qua thực quản hoặc trong
buồng tim.
Sốc điện chuyển nhịp
Được chỉ định khi:
- Các cơn tim nhanh trên thất có huyết
động không ổn định cần phải cắt cơn ngay.
- Các thuốc adenosin, verapamil có
chống chỉ định hoặc không có hiệu quả.
- Các biện pháp và thuốc khác không
hiệu quả.
- Liều điện: bắt đầu 50 - 100J, khi cần
sẽ tăng liều điện.
- Không sốc điện nếu có nhiễm độc
digitalis hoặc nhịp nhanh nhĩ bị blốc nghi do ngộ độc digitalis.
2. Điều trị can thiệp bằng năng lượng sóng cao tần RF
[3][4]
Điều trị nhịp
nhanh trên thất bằng sóng Radio frequency (RF) là một phương pháp điều trị can
thiệp tim mạch hiện đại, ưu việt mà các phương pháp điều trị khác như dùng
thuốc hay phẫu thuật không thể đạt được hiệu quả tối ưu. Tỷ lệ điều trị thành
công nhịp nhanh trên thất bằng sóng RF khoảng 90 - 98%, khoảng 80 - 90% đối với
nhịp nhanh nhĩ và cuồng nhĩ
- Biến chứng cấp tính: rối loạn huyết
động dẫn đến sốc.
- Biến chứng mạn: có thể gây bệnh cơ
tim do nhịp nhanh, giãn lớn tim và suy tim. Điều trị vẫn là điều trị loạn nhịp
kết hợp với điều trị triệu chứng suy tim.
- Tiên lượng của SVT ngày nay đã thay
đổi nhờ tiến bộ của thuốc và điều trị điện sinh lý can thiệp.
- Kỹ thuật chẩn đoán và loại bỏ các
đường bất thường, cũng như các ổ gây ra loạn nhịp bằng năng lượng tần số radio
qua catheter đã giải quyết khỏi với tỷ lệ khá cao từ 70 đến trên 90%.
- Phường ngừa trên hai phương diện:
+
Loại trừ các yếu
tố nguy cơ
+
Uống thuốc chống
tái phát.
Tất cả các bệnh nhân có cơn nhịp
nhanh đều có chỉ định nhập viện.
MỘT
SỐ MÃ ICD PHỤC VỤ CHO CHUẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
|
STT |
MÃ
BỆNH |
TÊN
BỆNH |
GHI
CHÚ |
|
1 |
I47.9 |
Nhịp
nhanh kịch phát, không đặt hiệu |
|
|
2 |
I47 |
Nhịp
nhanh kịch phát |
|
|
3 |
I47.2 |
Nhịp
nhanh thất |
|
|
4 |
I47.0 |
Loạn
nhịp thất do cơ chế vòng váo lại |
|
|
5 |
I47.1 |
Nhịp
nhanh trên thất |
|
|
6 |
I49 |
Loạn
nhịp tim khác |
|
|
7 |
I49.0 |
Rung
thất và cuồng thất |
|
|
8 |
I49.4 |
Khử cực
sớm khác và khồng xác định |
|
|
9 |
I49.2 |
Khử cực
sớm vùng bộ nối |
|
|
10 |
I49.5 |
Hội
chứng suy nút xoang |
|
|
11 |
I49.8 |
Loạn
nhịp tim xác định khác |
|
|
12 |
I49.9 |
Rối loạn
nhịp tim, không đặc hiệu |
|
|
13 |
I48 |
Rung nhĩ
và cuồng nhĩ |
|
|
14 |
I48.0 |
Rung nhĩ
kịch phát |
|
|
15 |
I45 |
Rối loạn
dẫn truyền khác |
|
|
16 |
I45.6 |
Hội
chứng kích thích sớm( hội chứng tiền kích thích) |
|
1. Nguyễn Lân Việt - Thực hành bệnh tim
mạch 2015.
2. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh
tim mạch Việt Nam 2010
3. Điều trị nhịp nhanh trên thất bằng
sóng tần số radio - Hướng dẫn quy trình kỹ thuật nội khoa, chuyên ngành tim
mạch - Bộ Y Tế - 2014
TS. Nguyễn Hồng Hạnh; TS Phạm Quốc Khánh; TS Trần
Văn Đồng; GS.TS Phạm Gia Khải; GS.TS Nguyễn Phú Kháng - Nghiên Cứu Ứng Dụng Điện
Sinh Lý Học Tim Để Chẩn Đoán Và Điều Trị Một Số Rối Loạn Nhịp Thất Bằng Năng Lượng
Sóng Có Tần Số Radio, Tạp chí tim mạch học Việt Nam - Số 57 – 2011
Nhận xét
Đăng nhận xét