HƯỚNG DẪN VỀ KIÊNG CỮ
Lương y Tạ Minh.
Kiêng
cữ thực ra chỉ là tránh né những nguyên nhân gây bệnh do bên ngoài đưa tới
như thức ăn uống, khí hậu thời tiết, sinh hoạt hằng ngày. Mỗi một ngày khi
thức giấc, cơ thể chúng ta bắt đầu đón nhận những yếu tố mới tác động vào
như nắng - mưa - gió - bão - bụi bặm - mùi hôi - khí thải……v.v.. Khi bắt
đầu ăn sáng là ta đưa một số chất mới vào. Chua có, cay có, đắng - mặn - ngọt
có; cái nào hạp (hợp) cái nào không hạp với ta?
Điều
trị bệnh mà không kiêng cữ thì hiệu quả điều trị rất kém, nếu không muốn
nói là sẽ không có kết quả. Chúng ta thấy hiện nay xu hướng của Tây y cũng đã
bắt đầu chú ý đến việc khuyên bệnh nhân kiêng cữ trong khi trị bệnh. Trước
đây vài mươi năm, hễ hỏi đến kiêng cữ là y như rằng bệnh nhân sẽ bị bác
sĩ cự nự cho một hồi. Nào là phải ăn cho đủ dinh dưỡng, nào là đã bệnh mà
còn cữ ăn thì làm sao khỏe mà trị bệnh được……vv..!!! Quả thật thì Đông y bắt
bệnh nhân cữ ăn hơi nhiều. Có nơi thấy bảng dặn dò kiêng cữ ăn uống của bệnh
nhân có đến vài chục món. Có lẽ việc này xảy ra là do bệnh nhân uống thuốc Đông
y, luôn có sự tương tác qua lại giữa thuốc và thức ăn. Vì thực chất thuốc Đông
y đều có nguồn gốc thực vật hay động vật, là một dạng thức ăn hơi đặc biệt vậy
thôi.
Nếu chỉ dùng huyệt để trị bệnh thì chúng ta
không sợ những tương tác như đã nói mà chỉ cần kiêng cữ những tác nhân gây bệnh
mà thôi. Đó là một trong những ưu điểm của phương pháp trị bệnh không dùng
thuốc. Vừa an toàn vừa đơn giản.
Trong
quá trình hành nghề và nghiên cứu chọn lọc tôi nhận thấy chỉ cần kiêng cữ theo
các nguyên tắc:
1)
Điều kiện môi trường không thích hợp: nóng - lạnh,
ẩm - khô, trong sạch hay bụi bặm.
2)
Điều kiện làm việc: thay đổi công việc hay ít ra cũng
cải thiện thói quen trong làm việc đối với các bệnh do nghề nghiệp gây ra.
3)
Thức ăn, uống: nếu kiêng cữ như Đông y lâu nay tuân
theo ta sẽ có một danh sách rất dài, thậm chí hầu như không còn gì để ăn ngoài
mễ cốc (gạo, lúa mì…)!! Bệnh nhân sẽ dễ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Do
đó tôi chỉ chú trọng vào những món trực tiếp gây bệnh một cách mạnh mẽ cho cơ
thể mà thôi. Gồm các nhóm chính.
·
Nhóm gây
lạnh cho cơ thể trong những bệnh do lạnh: thức ăn uống ướp lạnh, các món có
vị đắng mạnh như khổ qua, rau má, tim sen, rau ngổ, rau đắng…… Các món quá mát
như cam, dừa, thanh long, rau đay, bồ ngót……
·
Nhóm gây
nóng ráo cho cơ thể: các món ăn chiên nướng, các thức có vị cay nồng như
tiêu, ớt, tỏi, gừng…… Các món cung cấp năng lượng nhiều
như chocolate, cacao, các loại kẹo bánh có dùng đường……
·
Nhóm gây
co gân - cơ: các chất có vị chua đậm như chanh, cam, thơm (dứa)…… các chất
làm lạnh cơ thể.
·
Nhóm gây
trì trệ: hầu hết các món có chất nhờn đều gây trì trệ ứ đọng cho cơ thể
như đậu bắp, rau đay, mồng tơi, khoai mỡ…… và các chất làm hạ nhiệt.
·
Nhóm gây
viêm: hiện nay tôi chỉ phát hiện ra hai món gây viêm rất mạnh (trên cơ thể
vốn bị viêm): thịt gà và các loại mắm như mắm tôm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm thái…
(nước mắm thì vô hại, có lẽ vì độ mặn cao và quá trình lên men đã hoàn chỉnh
nên không có độc - hay ít độc??).
·
Nhóm có
chất hóa học phát sinh: tất cả các món trải qua quá trình lên men sinh học
(khác với lên men công nghiệp như xì dầu, magie): như chao, tương, bánh
mì, rượu, bia…… LƯU Ý: các loại này đôi khi đã nấu chín vẫn không phân
hóa được các hóa chất trong nó nên vẫn gây bệnh cho cơ thể khi dùng.
Nói chung khi bệnh có
liên quan tới gan (Can) và tụy (Tỳ) thì cần kiêng cữ khá nhiều, nghiêng về
hướng chất gây viêm và chất có hóa chất lạ, vì gan và tụy là bộ máy chính trong
xử lý hóa chất của cơ thể (Can chủ sơ tiết, mưu lự – Tỳ chủ hóa), dĩ nhiên ở tế
bào cũng có những quy trình xử lý hóa chất nhỏ riêng. Với Gan ta còn cần kiêng cữ
thêm thịt bò, cá biển độc như cá ngừ, cá chuồn, cá nhám, cá nục… còn các loại
cá hiền thì dùng được như cá chim, cá thu, cá bạc má… Với Tụy ta còn cần kiêng cữ
thêm các chất gây lạnh.
Còn
các loại bệnh chứng liên quan ta cứ theo bảng hướng dẫn nêu trên mà khuyên bệnh
nhân kiêng cữ.
Theo
triệu chứng ta có:
·
Chứng đau
nhức: cữ nhóm gây lạnh, gây co gân cơ.
·
Chứng
viêm (sưng + nóng + đỏ + đau), chấn thương: cữ nhóm gây viêm và nhóm gây co
gân cơ, nhóm gây lạnh (nếu bệnh thuộc hàn), nếu là bệnh thuộc nhiệt thì ngược
lại cần cữ nhóm gây nóng.
·
Chứng ứ
trệ, sưng nề (không nóng đỏ): cữ nhóm gây trì trệ, nhóm gây co gân cơ, nhóm
gây lạnh (vì lạnh cũng là một nguyên nhân gây trì trệ cho cơ thể).
·
Chứng có
nhiễm trùng hay viêm do nhiệt: viêm do nhiễm trùng hay do nhiệt đều gây ra
triệu chứng đau nhức. Thật ra trong Đông y thì phân chia khá rõ: đau thì do
nhiệt, nhức là do hàn, nhưng hầu hết bệnh nhân không thể phân biệt được hai
triệu chứng này mà họ thường gộp chung hoặc nói lẫn lộn. Loại này cần cữ các
món gây nóng ráo, nhóm gây viêm.
·
Các chứng
có tính dị ứng, các loại bệnh ngoài da: nhóm có hóa chất phát sinh.
Như vậy ta có một đường
lối kiêng cữ khá linh động vì theo gốc bệnh chứ không theo tên bệnh. Đo đó dễ
nhớ để dặn dò bệnh nhân.
TP. Hồ Chí Minh, 12 – 6 – 2002.
Nhận xét
Đăng nhận xét