CHẨN ĐOÁN HÀN NHIỆT BẰNG HUYỆT DIỆN CHẨN
Lương y Tạ Minh
Bệnh
nếu không thuộc hàn thì thuộc nhiệt hoặc hàn nhiệt lẫn lộn. Đông-y đã có cách
chẩn đoán hàn nhiệt.
Trước
hết, ta cần nhớ các chứng hàn nhiệt vừa có toàn thân vừa có cục bộ và sự tương
quan giữa chúng không có quy luật. Có nghĩa là có khi toàn thân là hàn mà cục
bộ lại nhiệt, có khi toàn thân nhiệt mà cục bộ lại hàn. Có khi toàn thân lẫn
cục bộ đều hàn hay nhiệt. Vì thế, khi chẩn đoán hàn nhiệt ta luôn cần xem xét
cả hai khía cạnh toàn thân và cục bộ để hạn chế sai sót.
I/- CHẨN ĐOÁN HÀN NHIỆT TOÀN THÂN
Hai
dụng cụ chính được sử dụng ở đây là que dò và ngải cứu. Cần thuần thục về kỹ
thuật, nếu không ta sẽ bị báo hiệu sai và kết quả chẩn đoán sẽ sai theo.
1)
Dùng que dò:
-
đau ở 26 là nhiệt ở biểu.
-
đau ở 143 là nhiệt ở lý.
-
đau ở 1 hoặc 43 là hàn nhẹ ở lý.
-
đau ở 19 là hàn nhẹ ở biểu.
2)
Dùng ngải cứu: ngải cứu được dùng khi khám bằng
que dò không có sinh huyệt:
-
nóng ở 1 hoặc 43 là hàn nặng
ở lý. Khi 43 nóng là mất khả năng tàng trữ Dương khí. Khi 1 nóng là mất
khả năng khai phát Dương khí.
-
nóng ở 19 là hàn nặng ở biểu.
-
nóng ở 143 là tinh huyết suy, mất khả
năng tàng trữ Âm huyết. Khó trị hơn các trường hợp khác.
-
nóng ở 26 là mất khả năng hấp
thu dương khí.
LƯU
Ý: phải dò cả 4 huyệt xong rồi mới kết luận sau khi đã tổng hợp –
xem ở phần “Kinh nghiệm lâm sàng”. Cần
loại suy các bệnh cụ thể liên quan đến 4 huyệt này như đang có bệnh ở cổ gáy
(huyệt 26), thắt lưng (huyệt 1), đau dạ dày (huyệt 19), hậu môn (huyệt 143)….vv.
……nếu không, sẽ nhầm lẫn trong chẩn đoán.
Nếu
với cả hai phương tiện mà không thấy sinh huyệt thì có thể kết luận toàn thân
bịnh nhân bình hòa, không hàn không nhiệt. Chỉ còn cần khám hàn nhiệt cục
bộ mà thôi.
II/- CHẨN ĐOÁN HÀN NHIỆT CỤC BỘ
Như đã
đề cập, khi một cục bộ có vấn đề (cơ quan bị bịnh), ta vẫn cần khám toàn thân
để tìm sự liên hệ nếu có giữa toàn thân và cục bộ. Nếu toàn thân không có gì,
ta chỉ cần khám cục bộ để biết bịnh thuộc hàn hay nhiệt.
1)
Dùng lăn đinh hay búa mai hoa tác động vào phản chiếu,
nếu báo đau là bệnh nhiệt.
2)
Dùng que dò: tìm sinh huyệt dựa theo đồ hình phản chiếu
nơi bị bịnh - chủ yếu ở trên mặt. Nếu báo đau là bịnh nhiệt nhẹ hay hàn nhẹ.
3)
Dùng ngải cứu: khi bịnh chứng rõ ràng mà khám
bằng que dò không thấy có huyệt đau là bịnh hàn. Dùng ngải cứu dò sẽ thấy nóng.
4)
Khi
huyệt không báo đau mà cũng không báo nóng là tìm chưa đúng, thay đổi hệ thống
phản chiếu.
5)
Khi huyệt
báo nóng lẫn báo đau là hàn nhiệt lẫn lộn, hoặc hàn nhẹ. Cần bình tĩnh
xem xét kỹ.
Tuy vậy, theo kinh
nghiệm, dò bịnh hàn nhiệt cục bộ bằng huyệt khá phức tạp vì huyệt chịu chi phối
bởi nhiều quy luật - như đối xứng, giao thoa, phản hiện v.v.... cần có nhiều
kinh nghiệm hỗ trợ mới ít sai lầm. Do đó, nên phối hợp với sờ tại chỗ để
xét hàn nhiệt - xem bài “Làm sao để đạt tứ đắc”. Đồng thời nên hỏi triệu
chứng tăng vào mùa nào trong năm, giờ nào trong ngày để tìm hiểu quy luật rồi
suy ra./.
TP. Hồ Chí Minh, 1989.
Nhận xét
Đăng nhận xét