CHẨN ĐOÁN ĐÀM THẤP THỦY
Thấp là ẩm thấp, là độ ẩm của vật chất. Trong y học có 2 loại thấp: ngoại thấp và nội thấp. Ngoại thấp là thấp từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể. Nội thấp là thấp do cơ thể tự sinh ra. Thủy là nước. Nước là thành phần cần thiết cho cơ thể, nhưng có tỷ lệ nhất định đối với thể trạng cơ thể. Thiếu hay thừa nước đều gây bệnh. Nước thừa bị thân nhiệt làm nóng sẽ cô đọng lại thành thấp, để lâu hơn sẽ cô đọng hơn nữa và thành đàm. Cho nên thủy và thấp dễ trừ hơn đàm. Chỉ có ngoại thấp và thủy mới gây bệnh trực tiếp ngay tức thì cho cơ thể. Còn nội thấp và đàm vốn do cơ thể sinh ra nên không gây bệnh ngay mà chỉ gây trở ngại sinh lý cho cơ thể nếu còn ít. Khi có bệnh rõ ràng là thấp và đàm khá nhiều khiến sinh lý cơ thể khó hoạt động mà sinh bệnh.
Ta
có thể hình dung như sau: một căn nhà muốn đi lại dễ dàng cần thông thoáng, đồ
vật cần dùng trong nhà được bố trí hợp lý. Khi có quá nhiều vật dụng cũ kỹ (mà
do tiếc của, đã để lại sau khi đã có đồ mới) và bố trí bừa bãi thì việc đi lại
trong nhà sẽ khó khăn vì vướng víu. Cơ thể cũng vậy, Nội-Thấp và Đàm do chính
cơ thể sinh ra, chúng không phải là độc tố ngoại lai nên hầu như không gây bệnh
rõ ràng, nhưng chúng khiến sinh lý cơ thể hoạt động không linh hoạt thông suốt.
Chính sự không thông suốt này lâu ngày gây bế tắc sinh bệnh. Đông y có một khái
niệm rất hay “ khí hành thì thấp tan, khí suy sinh thấp trệ”. Cho nên không chỉ
mạch Hoạt mới có đàm thấp mà mạch Hoãn cũng có thể biểu hiện có thấp. Một khía
cạnh khác, nội thấp như sản phẩm lỗi trong quá trình sinh hóa của cơ thể.
Triệu
chứng bệnh do đàm thấp thủy khá phong phú và phức tạp. Thậm chí có một số tác
giả Đông y cho là “quái bệnh” (bệnh kỳ quái). Nhiều trường hợp bệnh nhân cảm
thấy khó chịu không thoải mái, cảm thấy mình có bệnh nhưng thầy thuốc tìm không
ra bệnh, nhất là khi dùng Tây y để chẩn đoán.
Thấp,
đàm vốn không hàn không nhiệt. Nhưng rất dễ kết hợp với hàn nhiệt để tạo ra
thấp-hàn, thấp-nhiệt, đàm-hàn, đàm-nhiệt. Do đó cần kết hợp với triệu chứng của
hàn nhiệt để chẩn đoán và điều trị chính xác.
Một
số triệu chứng thường gặp do thủy, thấp, đàm gây ra:
-
Người luôn uể oải mỏi mệt không có lý do. Luôn
cảm thấy lười biếng.
-
Giấc ngủ mê mệt mà không khỏe khi thức giấc. Ngủ
dễ hay khó thì cũng thức giấc khó khăn. Không tỉnh táo ngay khi thức giấc dù
ngủ không thiếu.
-
Tứ chi cảm thấy nặng nề hoặc mỏi vô cớ, nhất là
lưng và chi dưới.
-
Đầu óc không minh mẫn dù không thiếu ngủ hay vận
dụng trí óc quá nhiều. Mà trước đây không có hiện tượng này, cũng không bị
stress, có nghĩa không hề có vấn đề gì về tinh thần. Cũng không bị thiểu năng
tuần hoàn não.
-
Thay đổi màu sắc ở da, niêm mạc. Hoặc da mất độ
tươi nhuận - theo lứa tuổi.
-
Phù thũng (ấn vào vùng nhiều thịt ở cổ chân bàn
chân bị lõm xuống mà khi thả ra không lồi lên ngay).
-
Béo phì vô cớ, ăn ít ăn thiếu chất mà vẫn
mập. Tuy nhiên với triệu chứng này cần xem xét thêm để loại trừ bệnh ở tuyến
Yên.
-
Những bệnh thuộc loại xơ hóa, sừng hóa đều thuộc
dạng đàm.
Lương y Tạ Minh, 1988.
Nhận xét
Đăng nhận xét