CHẨN ĐOÁN ÂM - DƯƠNG, KHÍ - HUYẾT, HÀN - NHIỆT, HƯ - THỰC.

 Lương y Tạ Minh

 

I/-        HÀN – NHIỆT

            Những triệu chứng của hàn nhiệt khá phong phú. Tùy theo bệnh mà có các chứng khác nhau. Nhưng mấu chốt vẫn là sự ưa hoặc sợ - nóng và lạnh, tăng hay giảm bệnh khi có điều kiện hàn nhiệt tác động. Cho nên rút gọn lại ta chỉ cần lưu ý các hiện tượng sau đây:

1)                   Những hiện tượng bệnh chứng thuộc hàn: với toàn thân ta có sợ lạnh, thích ấm, bệnh tăng lên khi gặp yếu tố lạnh. Đối với cục bộ ta sờ vào vùng có bệnh thấy lạnh hơn các nơi khác. Nếu chỉ mát nhẹ thì có thể do huyết kém.

2)                   Những hiện tượng thuộc bệnh nhiệt: với toàn thân ta có sợ nóng, ưa mát, bệnh tăng lên khi gặp yếu tố nóng. Với cục bộ ta sờ vào vùng có bệnh thấy nóng hơn các nơi khác, hơi nóng này bốc ra ngoài, chưa sờ đến đã thấy ấm nóng. Nếu chạm vào mà chỉ hơi ấm thì chưa hẵn là nhiệt mà vì huyết bế tắc gây ra mà thôi.

LUU Ý: Tổng trạng và bệnh cụ thể không bắt buộc phải cùng thể loại. Một tổng thể hàn vẫn có thể mắc một bệnh cụ thể là nhiệt; một tổng thể nhiệt vẫn có thể mắc một bệnh cụ thể thuộc hàn.

Không nên đặt các câu hỏi có tính áp chế như: “Hễ trời nóng thì bệnh nặng hơn phải không?”. Vì lúc này bệnh nhân sẽ dễ bị ám ảnh và hay trả lời xuôi theo câu hỏi “Phải, hễ nóng là đau hơn”, mà nên hỏi: “Bệnh tăng khi trời nóng hay trời lạnh?”. Với câu hỏi này bệnh nhân bắt buộc phải suy nghĩ và nhớ lại mới trả lời, thì câu trả lời sẽ khách quan hơn. Nếu bệnh nhân phân vân, ta nên khuyến khích bệnh nhân về xem xét lại và trả lời sau. Không nên hối thúc, bệnh nhân dễ bị rối trí và trả lời sai.

            Ta thấy, trong bệnh Dương hư, luôn luôn bệnh nhân sợ lạnh, da lạnh. Trong bệnh Âm hư, bệnh nhân luôn sợ nóng, da nóng. Âm Dương đều hư thì nóng lạnh đều ghét. Biên độ chịu nóng và lạnh của họ rất hẹp. Chưa ai thấy nóng hay lạnh họ đã kêu nóng hoặc lạnh.

            Trên lâm sàng hội chứng toàn thân và triệu chứng cục bộ (nơi có bệnh) có khi thống nhất có khi lại không thống nhất nhau. Vì thế cần chẩn đoán hai lần: toàn thân và cục bộ.

3)       Khi toàn thân và cục bộ thống nhất thì toàn thân sợ cái gì thì cục bộ tăng triệu chứng theo khi gặp cái đó. Thí dụ: trong đau khớp, bệnh nhân sợ lạnh và khi trời lạnh thì khớp đau hơn. Hoặc bệnh nhân sợ nóng và khớp cũng đau hơn khi trời nóng.

4)       Khi toàn thân và cục bộ không thống nhất thì yếu tố nóng và lạnh chỉ ảnh hưởng tới một khía cạnh mà thôi. Hoặc có khi ảnh hưởng trái ngược nhau. Ở đây sẽ khá phức tạp. Vì khớp là loại bệnh chứng thường gặp nhất nên được nêu làm ví dụ điển hình, các bệnh khác cũng suy luận tương tự.

·                     Toàn thân ấm hay nóng mà khớp lạnh: thuần túy là do khớp bị nhiễm lạnh (khớp rất lạnh, đây là bệnh thuộc thực – xem ở phần hư - thực dưới đây) hoặc do toàn thân thiếu máu hoặc chỉ do khớp bị thiếu máu (tại khớp không lạnh lắm như trường hợp trước, đây là bệnh do hư – xem ở phần hư - thực ở dưới). Tuy nhiên trên thực tế các loại này hay trùng hợp nhau. Ở đây thì khi trời lạnh, khớp sẽ đau hơn. Khi trời nóng khớp lại đau ít.

·                     Toàn thân mát hay lạnh mà khớp nóng: khớp bị nhiễm nóng hoặc nhiễm trùng nhẹ (nếu nhiễm trùng nặng thì cơ thể bắt buộc phải sốt). Khi khớp nhiễm nóng thì sẽ giảm bệnh (đau) khi gặp yếu tố lạnh. Nếu là nhiễm trùng thì khớp không giảm đau mà có khi còn đau hơn khi gặp lạnh!!

Trên thực tế đôi lúc chúng ta sẽ lúng túng khi gặp các triệu chứng hàn và nhiệt cùng xuất hiện đến nỗi khó phân định là bệnh thuộc hàn hay nhiệt. Hãy bình tĩnh xem xét. Chú ý đến thể trạng bệnh nhân vì thể trạng là nguồn gốc của mọi vấn đề. Một thể trạng (chính khí) vững mạnh rất khó nhiễm bệnh. Xem xét trong cơ thể nơi nào lạnh hay nóng nhất. Nơi đó là nơi ngoại tà xâm nhập gây bế tắc cho toàn thân. Điều chỉnh nơi này cho bình thường lại và điều chỉnh tổng trạng cho cân bằng lại thì sự rối rắm nêu trên sẽ mất và các triệu chứng sẽ hiện rõ hơn. Trên lâm sàng nhiều khi tôi chỉ điều chỉnh tổng trạng xong thì bệnh chứng cũng tự biến mất.

II/-       HƯ – THỰC

-                    Hư là trống rỗng, suy yếu, thiếu thốn. Là bệnh có nguyên nhân do suy yếu hay thiếu thốn. Thí dụ: suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, can dương hư, thận âm hư……v.v.. Vì thế khi nói đến bệnh thuộc hư là nói đến tổng trạng của bệnh nhân hay một tạng phủ nào đó bị suy yếu hỏng hóc. Nguyên nhân làm cho hư thì tùy, có lúc do bản chất tự hư, có khi do nguyên nhân bên ngoài tác động.

-                    Thực là đầy, là dư thừa. Là bệnh do sự dư thừa gây ra. Thí dụ: cảm lạnh là do cơ thể hấp thu nhiều khí lạnh nên bị dư thừa khí lạnh. Cảm nóng là do cơ thể hấp thụ quá nhiều hơi nóng sinh bệnh. Có thể nói bệnh thuộc thực là do nguyên nhân bên ngoài tác động vào khiến cơ thể không chịu đựng nổi mà phát bệnh.

Điều khó nhất là chẩn đoán đúng về Hư - Thực vì dương chứng có thể do dương vượng có thể do âm suy. Âm chứng có thể do âm vượng có thể do dương suy. Tương tự như hàn nhiệt, cần nhớ rằng chứng có thể là chứng của tổng trạng có thể là chứng của riêng căn bệnh mà thôi. Một tổng trạng bình thường vẫn có thể mắc một bệnh cụ thể thuộc hư. Một tổng trạng hư vẫn có thể mắc một bệnh cụ thể thuộc thực. Vì vậy chẩn đoán hư thực cũng cần chẩn đoán 2 bước : tổng thể và bệnh cục bộ. Phải biết phân biệt đâu là của toàn thân đâu là của riêng căn bệnh.

            Trên thực tế, kinh nghiệm cho biết bệnh thuộc thực thì triệu chứng mạnh mẽ, dữ dội, ồn ào, rõ rệt. Bệnh thuộc hư thì triệu chứng nhẹ nhàng, dịu dàng, phơn phớt, kín đáo. Kín đáo đến mức đôi khi bệnh nhân không cảm nhận được. Tuy việc chẩn mạch sẽ cho biết tương đối rõ về bệnh hư thực nhưng việc học chẩn mạch không dễ. Cần sự truyền thụ trực tiếp giữa thầy và trò. Đồng thời cần kinh nghiệm nhiều trong việc xem mạch. Vì thế trong thời gian qua, sau khi tìm hiểu và theo dỏi tôi tìm ra hiện tượng nêu trên. Điều còn lại là khi thấy triệu chứng thực hay hư thì phải tìm cho được vì đâu mà có triệu chứng này. Chỉ cần biết cách đặt câu hỏi cho phù hợp, kết hợp với óc suy luận phán đoán, khám kỹ theo tất cả các kỹ thuật khám bệnh đã biết thì việc chẩn đoán bệnh thuộc hư hay thực trở nên dễ dàng hơn.

III/-     HUYẾT - KHÍ.

            CHẨN ĐOÁN VỀ HUYẾT.

            Theo nhận định riêng của tôi, huyết không chỉ là máu, là hồng cầu, tiểu cầu màu đỏ mà bạch cầu, huyết tương và các vi chất cần thiết trong một cơ thể bình thường cũng thuộc huyết.

            Chẩn đoán về huyết cần tổng hợp các khía cạnh sau:

1)                  Màu sắc của niêm mạc môi mắt và lưỡi (chất lưỡi): hồng đều là tốt. Niêm mạc môi quan trọng hơn vì có khi chất lưỡi biểu hiện bệnh lý của tim, niêm mạc mắt thường thể hiện thấp và hàn nhiệt. Cần xem xét niêm mạc của trẻ khoảng từ 5 – 17 tuổi khỏe mạnh mà ta biết để lấy chuẩn. Về môi thì xem phía trong môi nơi tiếp xúc với răng lợi (nướu). Về mắt thì chia làm hai phần trong và ngoài của mặt trong mí mắt.

Nguyên tắc chung : Màu hồng phải tươi nhuận, trải đều. Nếu có ẩn màu vàng là có thấp, ẩn màu nâu là thiếu oxy, có tia máu là có huyết ứ. Ẩn màu xanh tím tái là có hàn. Nhạt hay trắng là huyết suy.

Đối với mặt trong mí mắt. Trong nhạt ngoài hồng là chỉ thiếu máu. Trong nhạt ngoài đỏ là thiếu máu có hư nhiệt. Đỏ toàn bộ thì hoặc thực nhiệt (bàn chân ấm) hoặc thượng nhiệt hạ hàn (bàn chân lạnh). Với trường hợp này sau khi giải quyết hiện trạng bệnh xong (do thực nhiệt hoặc do thượng nhiệt hạ hàn) ta cần xét lại mí mắt để biết tình trạng thật của huyết thể hiện ở mí trong mắt.

2)                  Màu sắc của da, độ tươi nhuận của da, màu sắc các móng tay chân. Màu sắc các nơi này cần hồng nhuận tươi bóng và thuần màu.

3)                  Đo huyết áp xem trị số và quan sát khoảng lui kim, tốc độ lui kim: thiếu máu khi huyết áp tâm thu từ 100 trở xuống kèm theo hiện tượng độ lui kim ít hơn 2 mmHg (1 nấc trên mặt đồng hồ) nhưng cũng có khi kèm thêm khí kém (chức năng kém) hay dương kém (sợ lạnh, thiếu sức bền). Có phối hợp với các yếu tố kể trên. Cần xem thêm bài “Cách đo huyết áp” trong “Các bệnh thường gặp”.

4)                  Xem mạch: thuộc kiểu mạch tiểu (nhỏ), mạch vô lực.

5)                  Xem xét về hiện trạng Thể dịch. Việc này cần tham khảo các xét nghiệm Cận lâm sàng.

Tổng hợp các yếu tố trên xong, phân tích để quyết đoán về huyết ở tình trạng nào: tổng lượng máu, thành phần máu, có tạp chất hay không, các nội tiết tố (cần xét nghiệm).

 

CHẨN ĐOÁN VỀ KHÍ

            Đông y mô tả Khí khá phức tạp và là thành phần vô hình, chỉ nhận biết mà không thấy được. Chữ Khí của Đông y bao gồm khí trời (thiên khí), khí của thức ăn (cốc khí) và khí trong cơ thể (nguyên khí, chân khí, tôn khí). Khí của cơ thể được hình thành bởi thiên khí, cốc khí và khí của cơ thể phối hợp nhau mà thành. Chúng thường được đề cập một cách hồn nhiên nên đôi khi gây hoang mang khó hiểu cho người mới học. Tuy nhiên theo tôi, nếu nói về Khí trong cơ thể thì Khí là chức năng các hoạt động của các cơ quan. Còn khí thiên nhiên do cơ thể hấp thu và sử dụng thì cần quy về thành phần của Thiên khí. Nói theo cách “Tây y” thì Khí thuộc khả năng vận hành hệ thần kinh của bệnh nhân. Thí dụ: Phế khí suy là chức năng hô hấp kém, Vị khí dương suy là chức năng co bóp và Vị khí âm suy là chức năng tiết dịch vị của dạ dày kém, Đại trường khí suy là chức năng truyền tống kém (nhu động ruột) làm cho bón……v.v.. Tương tự ta có khí toàn thân suy tổng quát là Nguyên Khí (Chân khí) suy là chức năng hoạt động thần kinh của toàn thân kém làm cơ thể lười nhác, uể oải, thiếu linh hoạt. Điều này thể hiện qua trạng thái hoạt động toàn thân và vẻ linh hoạt của mặt và mắt; trường hợp này thường được Tây y chẩn đoán là suy nhược thần kinh, là trầm cảm.

            Đối với các tạng phủ thì xem xét dựa theo sinh lý của chúng để đánh giá. Với người giỏi mạch thì việc chẩn đoán về khí không khó. Nhưng nếu không biết xem mạch thì với việc phát huy cách đặt câu hỏi khéo léo cộng với sự quan sát bằng mắt, óc suy luận, dựa trên hiện tượng khác với sinh lý bình thường của tạng phủ ta vẫn có thể chẩn đoán về khí cũng không mấy khó khăn (bệnh lý chính là sự khác thường của sinh lý).

            Đối với tổng thể. Điểm khác biệt giữa Dương suy và Khí suy là: Dương suy luôn có sợ lạnh, thiếu sức bền mặc dù vẫn siêng năng tích cực. Còn Khí suy thì không sợ lạnh, chỉ lười uể oải nhưng khi bị ép buộc thì sức làm việc vẫn bền bỉ. Muốn phân biệt Dương và Khí thì cần đặt câu hỏi theo hướng này.

            Tóm lại, để dễ hiểu theo ngôn ngữ hiện đại, theo tôi thì khí là thần kinh, huyết là thể dịch của cơ thể.

 

IV/-     ÂM DƯƠNG

            Trong Đông y, Âm Dương là tổng cương của 6 cương lĩnh kia (hàn, nhiệt, hư, thực, biểu, lý). Ba cương thuộc Dương là nhiệt (nóng), thực (dư thừa), biểu (bên ngoài). Ba cương thuộc âm là hàn (lạnh), hư (suy yếu), lý (bên trong). Có thể nói khi một bệnh nhân xuất hiện đủ triệu chứng của ba cương thuộc Âm hoặc Dương là có thể kết luận bệnh thuộc Âm hay bệnh thuộc Dương. Trong các y án, khi người ta nói “Dương chứng” có nghĩa là triệu chứng thuộc Dương (chứng nhiệt, chứng thực, chứng ở biểu) - tương tự cho từ ngữ “Âm chứng”. Nhưng có lúc chỉ có hai trong ba khía cạnh thôi, người ta cũng nói là Dương chứng hay Âm chứng. Điều này do thói quen và không ảnh hưởng gì đến kết quả chẩn đoán vì thường là bệnh đơn giản mới nói như vậy. Tuy nhiên trong thực tế thì hiếm khi triệu chứng lại thuần nhất đến như vậy mà thường pha trộn vài triệu chứng thuộc âm vài triệu chứng thuộc dương. Nếu bệnh phức tạp thì bắt buộc người ta sẽ nói kỹ hơn như một số từ thường gặp: hư nhiệt (nóng do hư), hư hàn (lạnh do hư), biểu nhiệt lý hàn (ngoài nóng trong lạnh), biểu hàn lý nhiệt (ngoài lạnh trong nóng), biểu hư lý thực (ngoài hư, trong thực)……v.v.. Hoặc cẩn thận hơn người ta sẽ liệt kê đầy đủ các triệu chứng thuộc âm và thuộc dương trước khi kết luận. Trong Đông Y có một câu khá hay khi ứng dụng trên lâm sàng: Âm chứng là Dương bệnh, Dương chứng là Âm bệnh (triệu chứng thuộc Âm là phần Dương bị bệnh; triệu chứng thuộc Dương là phần Âm bị bệnh).

            Tóm lại, Dương chứng hay Âm chứng chỉ là tổng kết triệu chứng của ba cương lĩnh thứ cấp của chúng trong Bát Cương mà thôi. Tuy nhiên nói như vậy là cũng chưa đầy đủ vì ÂM và DƯƠNG còn là 2 thành phần cơ bản của cơ thể. Có thể nói gọn: Âm là cơ sở vật chất, Dương là năng lượng tạo nên, duy trì sự tồn tại và hoạt động của vật chất. Điều này khá phức tạp, xin được đề cập ở dịp khác.          

KẾT LUẬN:

            Bài viết này là kinh nghiệm thực tế và không theo hẳn Đông y mà có phối hợp đối chiếu với Tây y. Do đó sẽ hơi khác với các tài liệu Đông y đã có.

Như vậy, khi chẩn đoán bệnh ta luôn cần chẩn đoán bệnh thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực cùng lúc để có kết luận tương đối đủ và đúng. Trong Đông y thì còn cần biết thêm về biểu (bên ngoài) và lý (bên trong), nhưng với DC thì hai yếu tố này không cần thiết nên tôi lược bỏ. Xin xem lại bài “Một số khái niệm thường gặp”.

CHÚ THÍCH:

·                     Dương chứng: chứng thuộc dương gồm có chứng nhiệt, chứng thực, chứng xuất hiện bên ngoài.

·                     Âm chứng: chứng thuộc âm gồm chứng lạnh, chứng hư, chứng thuộc bên trong.

·                     Biểu chứng: chứng xuất hiện bên ngoài cơ thể có thể thấy, sờ được như các bệnh ngoài da, bệnh viêm khớp…………

·                     Lý chứng: chứng thuộc bên trong là các bệnh chứng của tạng phủ như viêm gan, viêm dạ dày, suy thận………….

·                     Chính khí: sức lực tổng thể của bệnh nhân, sức mạnh nội tại. Còn được gọi là nguyên khí, tôn khí.

·                     Tà khí: yếu tố gây bệnh như vi khuẩn, thời tiết khắc nghiệt, môi trường ô nhiễm, thức ăn không hợp…... nên thường gọi là ngoại tà.

·                     Bát cương: là 8 cương lĩnh (giềng mối) dùng trong chẩn đoán của Đông y, gồm có Âm, Dương, Hư, Thực, Hàn, Nhiệt, Biểu, Lý. Rất đơn giản nhưng bao trùm phương pháp luận chẩn đoán của Đông y. Rất hiệu nghiệm nếu nắm vững kỹ thuật chẩn đoán này khi cùng phối hợp với Tạng tượng.

Bài viết này chưa phải là bài giảng về Bát Cương mà chỉ nêu lên những mấu chốt của Bát cương mong giúp các bạn sau này có cơ hội đọc sách Đông y sẽ dễ lĩnh hội hơn mà thôi.

TP. Hồ Chí Minh, 1993.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

HUYỆT MỐC ĐỒ HÌNH

CÁCH SỬ DỤNG TÀI LIỆU

Tăng Huyết Áp