BỔ ÂM HUYẾT
Lương y Tạ Minh.
Âm
huyết kém là nguyên nhân của rất nhiều bệnh chứng. Việc chẩn đoán âm huyết kém
không khó. Khó là bồi bổ cho đạt yêu cầu. Có những trường hợp bịnh nhân đã uống
thuốc bổ Đông dược hoặc Tây dược hằng mấy tháng vẫn không hề chuyển biến! Thật
là khó hiểu và bất hợp lý. Trên lâm sàng không ít lần chúng ta bế tắc khi gặp
trường hợp này. Bệnh vì âm huyết suy mà không bổ được thì không thể trị dứt
bệnh mà chỉ làm giảm chứng. Thế thì cứ phải gặp nhau hoài, làm bịnh nhân
nản lòng mà thầy thuốc nản hơn, đôi khi càng trị theo chứng lại càng làm âm
huyết suy thêm. Cho nên khi xây dựng được bộ huyệt BỔ ÂM HUYẾT này, tôi vô cùng
mừng rỡ vì qua thực tế sử dụng thấy kết quả rất tốt ngoài ý muốn ban đầu. Xin
trình bày để chúng ta cùng dùng, giúp cho bịnh nhân.
I/- PHÁC ĐỒ
22, 127, 63M + -, 17 + -, 113 + -, 7
+ -, 63, 50, 19, 39, 37, 1, 290 + -, 0 + -.
II/-
KỸ THUẬT
Trên
lâm sàng thường có hai thể khác nhau: hàn và nhiệt.
-
Hàn chứng thì người mát cho tới lạnh, cảm giác tương
đối sợ lạnh hơn sợ nóng.
-
Nhiệt chứng thì người ấm đến nóng, cảm giác tương
đối sợ nóng hơn sợ lạnh.
Khi huyết kém thì nóng
lạnh đều sợ. Thiên hạ chưa nóng mình đã nóng, chưa lạnh thì mình đã lạnh nên
tôi dùng chữ tương đối.
1)
Hàn chứng: ngải cứu hơ mỗi huyệt nóng một lần không
xoa dầu, theo thứ tự trên. Nếu BN không bị hàn rõ rệt thì chỉ cần day
có một ít dầu cao. LƯU Ý: đã day dầu thì không hơ, đã hơ thì không chấm dầu
vì sẽ dễ gây quá liều về nhiệt.
2)
Nhiệt chứng: dùng que dò chấm vaseline day mỗi huyệt 30
cái nhè nhẹ theo thứ tự như trên (không cần day mạnh cho thật đau -
vaseline ở đây chỉ nhằm bôi trơn chứ không có tác dụng gì).
3)
Đa số trường hợp, bàn chân là nơi tạo hiệu quả cao nhất
khi dùng bộ huyệt này.
III/- TÁC DỤNG VÀ
CHỦ TRỊ
Qua thực tế áp dụng từ năm 1991 đến
nay, tôi nhận thấy bộ huyệt này có các tác dụng như sau:
-
Giúp biết đói khi tới
giờ ăn, ăn ngon miệng, tiêu hóa tốt, hấp thu tốt, biến dưỡng tốt.
-
Sinh tân dịch, sinh cơ
nhục, tạo hồng cầu.
-
Bổ huyết, bổ Âm.
-
Điều hòa thành phần
máu.
Qua đó, nó trị được các bệnh do huyết hư suy, thiếu tân dịch như: suy
nhược cơ thể do ăn kém hoặc ăn tốt nhưng không hấp thu nên vẫn gầy kể cả các
trường hợp đã uống nhiều thuốc bổ Đông Tây y; thiếu hồng cầu; thiếu huyết sắc
tố trong máu, thiếu huyết tương; tiểu đường; cholesteron trong máu cao; các
bệnh thuộc về sự thoái hóa (như thoái hóa võng mạc, thoái hóa thần kinh thị
giác, thoái hóa khớp…); táo bón kinh niên dạng âm hư (phân dê), ngũ tâm phiền
nhiệt…Nếu vận dụng khéo léo trị được các trường hợp suy kiệt nặng mất khả năng
hấp thu thuốc bổ.
IV/- ỨNG BIẾN LÂM
SÀNG
-
Thông thường, với
người ăn kém, chỉ sau ba lần điều trị là bịnh nhân đã bắt đầu chuyển biến như
thấy đói bụng, ăn ngon miệng hơn… nhưng kết quả cuối cùng lên cân thì không
nhanh được mà phải có thời gian. Nếu sau ba lần dùng bộ huyệt này mà không thấy
hiệu ứng gì về tình hình ăn uống thì thường do cơ thể ứ đọng thủy thấp quá
nhiều, cần trừ thấp trước rồi bổ âm huyết sau (xem bài “Trừ đàm thấp thủy bằng DC-ĐKLP”).
-
Trong bệnh tiểu đường
và cholesteron trong máu cao ta cần thêm huyệt 347. Không dùng được khi
triglycerid cao.
-
Nếu thiếu hồng cầu
hoặc huyết sắc tố ta phải dùng trọn tam giác Tỳ 37, 40, 481. Trường hợp này
niêm mạc BN rất nhạt. Tuy nhiên, trường hợp này tỷ lệ thành công chưa cao (dưới
50%).
-
Nếu
huyết áp thấp, âm chứng mà niêm mạc môi, lưỡi nhạt và mắt có lớp trong nhạt hay
trắng là Dương hay Khí suy kèm Âm hay Huyết kém hoặc cả hai đều kém. Bạn phải
dùng bộ Bổ Âm Huyết-Thăng như sau: 22, 127, 63M + -, 17 + -,113 + -,7 + -, 63,
50, 19, 39, 37, 40, 481, 1, 73 - +, 189, 103, 300 - +, 0 + -.
V/- KẾT LUẬN
Bộ
BỔ ÂM HUYẾT này hiệu quả rất tốt trong nhiệm vụ bồi bổ cơ thể đơn thuần. Riêng
khi dùng để chữa bệnh thì cần kết hợp linh động với các phác đồ khác một cách
khéo léo mới mong đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên với bịnh nhân trên 70 tuổi thì
vấn đề khó khăn hơn.
TP. Hồ Chí Minh, 1-1-1999.


Nhận xét
Đăng nhận xét