BỆNH HỆ VẬN ĐỘNG
Lương y Tạ Minh.
4.1.
ĐAU GÁY VAI
Gáy
vai thường đau đột ngột sau một giấc ngủ. Nếu là lần đầu tiên hoặc lâu lâu (vài
năm) mới bị một lần thì đa số là do nhiễm lạnh trong khi ngủ. Dùng giải pháp
làm ấm cơ thể bằng day dầu hay hơ có dầu bộ Bổ trung hay bộ Thăng, phản chiếu
hoặc đồng ứng gáy vai. Thông thường chỉ trị một lần là khỏi hẳn ngay tại chỗ.
Nếu không khỏi hẳn ta điều trị tiếp như sau:
-
Đau khi cúi đầu hoặc quay đầu qua bên này thì
đau bên kia: hơ có dầu đồng ứng gáy ở cổ tay và cổ chân, ngón chân út, ngón tay
út.
-
Đau khi ngửa đầu hoặc quay đầu qua bên nào thì
đau bên đó: dán salonpas bộ Tiêu viêm, phản chiếu gáy theo Đồ hình Dương, Đồ
hình Trắc diện.
Nếu là trường hợp
thường xuyên, nhiều lần trong năm thì có thể có thoái hóa vùng cột sống cổ và
cột sống lưng trên (đoạn từ D1 đến D4-5). Xem phần Thoái hóa cột sống.
4.2.
ĐAU KHỚP VAI, KẸT KHỚP VAI
Có 2 trường
hợp thường gặp:
Khớp
vai bị đau đến mức không thể đưa tay lên chải tóc hay ngoặc tay ra sau lưng
được. Ấn đau các vùng quanh vai, Tây y gọi là viêm chu vai (viêm quanh vai). Lần
đầu nên hơ xoa dầu bộ Thăng, Tiêu viêm, phản chiếu khớp vai Đồ hình Dương, Âm,
Trắc diện, Vỏ não. Sấy có dầu tại khớp vai và quanh khớp. Các ngày sau chỉ cần
day dầu bộ Tiêu viêm, phản chiếu khớp, sấy dầu tại khớp. Tuy nhiên việc duy trì
bộ Thăng và hơ ngải cứu bao nhiêu ngày là tùy thể trạng bệnh nhân mà quyết định
cho phù hợp, đề phòng sự quá liều về ngải cứu. Đây là một bệnh cấp nhưng lại
mang tính chất của bệnh mạn tính, do đó nên điều trị theo dạng mạn tính.
Đau
tại một điểm cố định ở mõm vai. Ấn đau tại mõm, các nơi khác không đau. Đây là
viêm tại khớp. Cũng có thể vôi hóa khớp (thể hiện rõ trên phim). Điều trị theo
cơ chế.
Ngoài ra còn vài cơ chế khác như giãn
dây chằng khớp, bong gân nhỏ tại khớp. Các cơ chế này khó chẩn đoán từ lâm sàng
đến cận lâm sàng. Lắm khi phải điều trị thử loại suy dần hoặc bao vây: Bổ
Trung, TVKỨ , An thần, phản chiếu.
4.3.
ĐAU LƯNG
Hầu
hết mọi trường hợp đau lưng nếu không do chấn thương viêm tấy thì đều do có
trục trặc ở các khớp đốt sống hay chính các đốt sống. Với bệnh lý của chính đốt
sống thì ta có gãy, vỡ, xẹp là những bệnh lý không thể điều trị được (cần phẫu
thuật thay đốt sống giả, gần đây có kỹ thuật bơm hóa chất thẳng vào đốt xương
bị xẹp). Các bệnh lý cột sống còn có thể điều trị:
-
Trượt đốt
sống: đau lưng kèm tê và yếu chân khi đứng và đi lâu, mất triệu chứng khi
nằm lâu. Chỉ điều trị được khi rất nhẹ, theo kinh nghiệm những ca bệnh tôi đã
điều trị thì khoảng 1/8 là còn trị được, ít hơn “trượt đốt sống độ 1” của Tây y
(trượt ¼), cần chụp X quang nơi bị đau, thường xảy ra ở vùng L4-L5 và L5-S1.
Điều trị: chẩn đoán hàn nhiệt, day Bổ trung với kỹ thuật thích hợp, phản chiếu.
Bắt buộc bệnh nhân mang đai lưng để cố định cột sống. Hạn chế đi đứng, tuyệt
đối không mang vác cái gì.
-
Viêm khớp
đốt sống: đau trong mọi tư thế. Chẩn đoán hàn nhiệt rồi chọn phương án
thích hợp. Hàn thì làm ấm, Tiêu viêm, phản chiếu. Nhiệt thì chỉ Tiêu viêm, phản
chiếu. Kiêng lạnh, chua, gà, mắm, nếp.
-
Thoái hóa
đĩa đệm (xơ, cứng, xẹp, hẹp): Xơ cứng thì đau nhiều khi chuyển động sau khi
nằm yên lâu, như thức giấc sau khi ngủ dậy; hoạt động một lúc thì giảm dần
nhưng không hết hẳn. Xẹp hay hẹp chỉ đau nhiều khi ngồi đứng, nằm thì đau giảm;
đau nhiều khi mang vác nặng, càng lúc càng tăng. Xơ cứng: day Bổ Âm huyết, phản
chiếu, lọc thấp. Xẹp hay hẹp rất nan giải, hiệu quả kém, cần điều trị lâu: Bổ
Âm Huyết, phản chiếu. Hạn chế đi đứng nhiều, tuyệt đối không mang vác bất cứ
cái gì. Nên nằm nhiều hơn ngồi, đứng. Nên tập các động tác làm dẻo lưng.
-
Thoát vị
đĩa đệm: với Tây y đây cũng thuộc thoái hóa đĩa đệm trong các kết luận
chẩn đoán. Triệu chứng đặc trưng là nếu bị nhẹ thì khi đau khi không, không có
quy luật. Day dầu Bổ trung, phản chiếu. Kiêng chua lạnh, phải mang đai lưng.
Tuy nhiên chỉ điều trị được những trường hợp rất nhẹ, chưa đánh giá được mức độ
nào là còn chữa được vì X quang không chẩn đoán được. Theo tôi, loại bệnh này
nên theo phương pháp trật đã, hiệu quả cao, nhanh hơn là phẫu thuật, dĩ nhiên
đòi hỏi lương y trật đã có tay nghề cao. Sau khi đã được nắn khớp theo trật đã,
dùng TVKỨ, phản chiếu khoảng 1 tuần đến 3 tuần.
-
Thoái hóa
cột sống: là một từ chỉ chung những thay đổi thực thể của cột sống: vôi hóa
đốt sống (gai cột sống), xẹp đốt sống, khuyết mòn đốt sống. Chỉ điều trị được
vôi hóa cột sống. Chẩn đoán hàn nhiệt, phác đồ chung: Bổ trung, Tiêu viêm, phản
chiếu. Sau khi giảm đau nhiều mà không khỏi hẳn thì chuyển qua day vaseline bộ
Bổ Âm huyết, phản chiếu. Bệnh này điều trị lâu, kết quả chậm chạp và có khi
không khỏi hẳn mà thành công có mức độ. Chú thích: có nhiều anh chị em điều trị
thấy bệnh nhân hết đau hẳn thì cho rằng trị khỏi, nhưng thật ra là chỉ trị được
sự viêm phần mềm quanh gai mà thôi chứ gai thì không giảm tí nào. Tuy
nhiên có nhiều trường hợp gai biến mất là do may mắn có lẽ vì chất liệu
cấu tạo gai mềm dễ tan rã, điều này có thực nhưng chưa biết chắc chắn nhờ đâu
mà điểm vôi hóa mất hẳn - trường hợp này khá ít ỏi.
4.4.
ĐAU THẦN KINH TỌA
Đau
chân kèm có cảm giác khó chịu vùng thắt lưng hay vùng mông (đây là điểm khác
biệt với đau chân do tắc mạch) vì đau thần kinh tọa luôn có gốc bệnh ở
vùng cột sống thắt lưng, vùng khớp cùng-chậu hay vùng khớp chậu-đùi. Khám tại
chỗ vùng thắt lưng, cùng-chậu, chậu-đùi để tìm gốc bệnh. Do đó chỉ cần điều trị
tập trung vào vùng gốc bệnh, không nên điều trị vào vùng chân (dù kết quả rất
nhanh) vì khi mất triệu chứng đau chân bệnh nhân sẽ ngưng điều trị, và sau đó
sẽ tái phát nhanh vì vùng gốc của bệnh chưa điều trị xong. Chẩn đoán hàn nhiệt,
chọn kỹ thuật thích hợp, dùng bộ Tiêu viêm, phản chiếu và tác động thêm tại
chỗ. LƯU
Ý: vì là bệnh lý của xương khớp nên cần chẩn đoán thêm đau do
nguyên nhân cơ chế nào (viêm khớp, thoái hóa khớp, loãng xương gây biến
dạng xương, thoái hóa đĩa đệm…) để có tiên lượng và phương án thích hợp.
4.5.
BONG GÂN
Dùng
bộ Tiêu viêm khử ứ phản chiếu, nên có dầu.
4.6.
LIỆT MỘT CƠ PHẬN NÀO ĐÓ
Dùng
bộ huyệt Liệt do tai biến mạch máu não và Chấn thương sọ não vì đây là do tổn
thương khu trú tại não do vỡ mạch hay tắc mạch.
Nếu bệnh nhân bị sốt
cao trước hoặc trong khi liệt diễn tiến thì lại do siêu vi tấn công vào hệ thần
kinh. Trường hợp này khó tìm phản chiếu, hiệu quả điều trị kém, đôi khi không
điều trị được. Nên chẩn đoán hàn nhiệt, chọn kỹ thuật và phác đồ điều chỉnh
tổng thể tương ứng, Tiêu viêm, phản chiếu não tủy và toàn thể cơ phận liệt. Thí
dụ: liệt một cánh tay (hoặc bàn tay hoặc một vài ngón tay) thì phản chiếu ở đây
sẽ là vùng đầu, cột sống cổ dài đến CS lưng trên (vùng D1 – D5), cánh tay bàn
tay kể cả các ngón.
4.7. THẤP KHỚP
Bài này có thể
dùng chung cho các trường hợp viêm đau khớp, trừ trường hợp có nguyên nhân
thoái hóa khớp, bệnh gút.
Triệu chứng lâm sàng: đau khớp là triệu chứng chính, sưng hoặc
không sưng hoặc đỏ hoặc nóng hoặc lạnh là các triệu chứng phụ (là triệu chứng
có thể có có thể không). Thể trạng không nói lên điều gì, có nghĩa người ốm hay
mập đều có thể mắc bệnh này.
Theo Đông y là do “phong hàn thấp tà ứ đọng ở khớp, uất lâu hóa hỏa, khí trệ
huyết ứ”. Theo Tây y thì có nhiều cơ chế trong đó có cơ chế tự miễn nhưng chưa
tìm được nguyên nhân gây bệnh cụ thể.
Trên lâm
sàng có 2 dạng âm và dương chứng. Từ đây chia ra các chi tiết khác.
Dương chứng: khớp đau, sưng,
đỏ, nóng. Chẩn đoán cần hội đủ các hiện tượng sau: huyết áp dương chứng hoặc
quân bình. Niêm mạc một lớp đỏ tươi hoặc đỏ tối (không tươi), đôi khi hai lớp
nhưng lớp ngoài luôn đỏ. BN sợ nóng. Bàn chân ấm hay nóng.
Có 3 trường hợp.
Thuần
túy do nhiệt thấp: bàn chân ấm, không sốt. Điều trị: day Tiêu Viêm ở mặt,
trừ thấp ở bàn chân và mặt,phản chiếu khớp đau. Day khai thông quanh khớp. Nếu
BN có cảm giác nóng người có thể day Bộ Giáng trước. Tuy nhiên không nên lạm
dụng bộ Giáng trong trường hợp này, khi BN thấy không nóng người nữa là ngưng
vì dùng lâu sẽ hại nguyên khí của BN.
· Có
nhiễm trùng: bàn chân nóng, người sốt. Day bộ Giáng, Tiêu Viêm, phản chiếu
khớp, day khai thông quanh khớp. Cũng có thể dùng bộ Phản Chiếu Hệ Bạch Huyết,
phản chiếu khớp, day khai thông quanh khớp.
· Âm
hư huyết kém có thấp nhiệt: bàn chân ấm, người không sốt. Day Bổ Âm Huyết
ở bàn chân và mặt, lọc thấp, phản chiếu khớp, day khai thông quanh khớp. Kết
quả chậm.
Âm chứng: khớp đau. Chẩn đoán
cần hội đủ các hiện tượng: huyết áp âm chứng hoặc quân bình. BN sợ lạnh. Bàn
chân mát tới lạnh. Đôi khi khớp cũng sưng, ấm, hồng (khác với nóng đỏ; điểm này
khi gặp nhiều thì phân biệt không khó. Âm chứng mà có ấm hồng ở khớp là do bế
tắc vi mạch gây ra chớ không phải là nhiệt tà). Đôi khi có trường hợp niêm mạc
mắt đỏ toàn bộ (đây là do hàn thấp quá nhiều ép nhiệt xông lên trên che lấp
hiện trạng thực tế của huyết). Có 3 trường hợp.
· Thuần
túy do hàn thấp: bàn chân lạnh, người sợ lạnh, niêm mạc mắt có thể đỏ tối
toàn bộ. Điều trị: nhẹ thì hơ có dầu Bổ Trung,cào dầu Trừ Thấp ở bàn chân. Nặng
thì hơ Bộ Thăng, hơ trừ thấp ở bàn chân. Hơ khai thông quanh khớp có dầu hay
không dầu cũng được. Chú ý: Không làm ở mặt nếu mặt không lạnh. Nếu mặt mát
lạnh thì day có dầu Bộ Thăng, cào đầu Trục Thấp. Cần khám lại ở lần điều trị kế
tiếp để chẩn đoán lại và thay đổi phác đồ khi thấy niêm mạc mắt thay đổi.
· Dương
hư: bàn chân lạnh, người sợ lạnh, niêm mạc mắt nhạt đều hay hồng đều. Điều
trị: hơ có dầu Bộ Thăng ở bàn chân, day dầu ở mặt Bộ Thăng, hơ khai thông quanh
khớp, có dầu hay không dầu cũng được.
· Dương
hư kèm Âm hư lẫn khí huyết kém: bàn chân mát tới lạnh, người sợ lạnh lẫn
nóng, niêm mạc mắt nhạt tới trắng. Trường hợp này khó, hiệu quả chậm hơn các
trường hợp nêu trên. Tùy bàn chân mát hay lạnh. Bàn chân mát thì chỉ day dầu bộ
Bổ Âm Thăng, Lọc thấp ở bàn chân; ở mặt thì day Bổ Âm Thăng rồi Lọc Thấp, phản
chiếu. Day dầu khai thông quanh khớp (không hơ). Bàn chân lạnh thì hơ (không có
dầu) Bổ Âm Thăng ở bàn chân. Ở mặt thì nếu mặt bình thường, chỉ day Bổ Âm
Thăng, lọc thấp,phản chiếu. Nếu mặt mát lạnh thì có thể day như trên mà có dầu.
Day dầu khai thông quanh khớp.
Nêu trên chỉ là 6
trường hợp điển hình của bệnh đau viêm khớp. Trên thực tế có thể có sự pha trộn
nhưng chỉ là pha trộn của thấp vào mà thôi. Như Dương hư kèm thấp hàn, Âm hư
kèm thấp nhiệt, Âm Dương lưỡng hư kèm thấp hàn lẫn thấp nhiệt…vv.. Nhất là khi có
thấp, yếu tố này sẽ che lấp các hiện trạng thực tế của huyết khiến ta khó chẩn
đoán hơn. Vì vậy luôn khám lại trước khi điều trị là việc phải làm để có thể
bám sát thực tế lâm sàng.Nếu theo đúng phương hướng này có lúc bạn sẽ thấy hôm
trước niêm mạc mắt đỏ rực mà lại hôm sau trắng bệt, lúc này mới thật sự biểu lộ
huyết của BN rất kém. Vì thế, dù chưa giỏi Đông y, chưa biết bắt mạch bạn vẫn
có thể chẩn và trị được một số bệnh khó mà ít sai lầm.
Có những trường hợp BN
viêm khớp do nhiễm trùng, đã uống kháng sinh theo toa BS, đã hết sốt, đã giãm
sưng đau nhưng không khỏi hẵn. Đó là vì CHÍNH KHÍ SUY (Âm Dương suy hay mất cân
bằng, Khí Huyết kém). Nếu không điều bổ âm dương khí huyết cho BN thì khó lòng
khỏi bệnh, nếu có khỏi thì lại tái phát trong một ngày không xa.
Như đã trình bày trong
tài liệu của tôi. Một bệnh cụ thể đôi khi chỉ là tại chổ, nhưng hầu hết đều do
tổng trạng suy yếu mà ra (chính khí suy). Nếu chỉ chữa tại chổ mà không điều
chỉnh tổng thể (phục hồi chính khí) thì tuy bệnh có giãm hay khỏi nhưng sẽ tái
phát sớm. Tất cả những điều này tôi đã trình bày trong phần “Nguyên tắc chẩn
đoán” và “Nguyên tắc điều trị”. Các bạn cần đọc kỹ và nghiên cứu kỹ hai phần
này để hiểu và áp dụng được phần “Các bệnh thường gặp” trong “GIÁO ÁN CHẨN TRỊ
BỆNH BẰNG DC-ĐKLP KẾT HỢP ĐÔNG TÂY Y” của tôi.
LƯU Ý: day có nghĩa là day không có dầu, day dầu là day có chấm dầu vào que dò
hay huyệt hay vùng tác động. Hơ có nghĩa chỉ hơ, hơ dầu là hơ mà có chấm dầu
vào nơi hơ. Các bạn không nên tự ý thêm thắt theo thói quen. Hãy từ bỏ các thói
quen,lúc nào cũng lăn rồi day rồi hơ….vv .
LƯU Ý: cần cảnh giác với bệnh Thấp tim là một thể đặc biệt của thấp
khớp, có nhiễm trùng cho nên điều trị theo Tây y tốt hơn, ta chỉ nên hỗ trợ. Triệu
chứng: thuở nhỏ hay bị viêm họng, sưng -nóng - đỏ - đau tại khớp, sốt từ 38 độ C
trở lên, nhịp tim nhanh dù sốt hay không, có thể có rối loạn nhịp tim. Đôi khi
tự khỏi dù không điều trị gì cả, khỏi nhanh khi có điều trị. khi khỏi
không để lại dấu vết gì. Tái đi tái lại nhiều lần.
4.8.
THOÁI HÓA KHỚP
Triệu chứng đặc trưng là càng vận động (làm việc, tập
luyện) cho khớp thì khớp càng đau. Nghỉ thì giảm. Loại này ta chỉ chữa triệu chứng
giảm đau, khó có thể trị dứt được vì khớp đã hư hỏng. Dặn dò bệnh nhân không
nên tập nặng cho khớp, không mang vác bất cứ cái gì. Điều trị: Bổ Âm huyết,
Tiêu viêm, phản chiếu, khai thông tại khớp.
Đây chỉ là những bệnh điển hình thường gặp và có phương
cách điều trị hơi đặc biệt. Tất cả những trường hợp còn lại đều theo cách điều
trị tổng quát: chẩn đoán tổng thể, chẩn đoán nguyên nhân cơ chế bệnh, phản
chiếu. Điều trị đáp ứng theo các yếu tố vừa tìm được.
TP. Hồ Chí Minh, 1993.
Nhận xét
Đăng nhận xét