BỆNH HỆ TIM MẠCH
Lương y Tạ Minh.
SƠ LƯỢC VỀ HỆ TIM MẠCH
Quả tim là cơ quan có
chức năng tạo một lưu lượng máu lưu thông cho toàn cơ thể, là một máy bơm máu
đi và hút máu về. Gồm:
-
Tâm
nhĩ phải: hút máu đen từ tĩnh mạch chủ đổ về thông qua van tĩnh mạch chủ bằng
cách giãn nở (tâm trương). Co bóp (tâm thu) để đưa máu đen xuống tâm thất phải
thông qua van 3 lá.
-
Tâm
thất phải: hút máu đen từ tâm nhĩ phải bằng cách giãn nở (tâm trương) rồi
co bóp (tâm thu) tống máu đen lên phổi thông qua van động mạch phổi.
-
Tâm
nhĩ trái: giãn để hút máu đỏ từ phổi về thông qua van tĩnh mạch phổi. Rồi co
bóp tống máu đỏ xuống thất trái thông qua van 2 lá.
-
Tâm
thất trái: nở để hút máu đỏ từ nhĩ trái về rồi co để tống máu đỏ ra động mạch
chủ thông qua van động mạch chủ.
-
Tim
được nuôi dưỡng bằng một hệ thống mạch máu dành riêng cho nó gọi là mạch vành.
Mạch vành tim trái có số lượng nhiều gấp bội lần bên tim phải.
-
Các
động và tĩnh mạch là các ống dẫn để máu lưu thông.
-
Máu
đỏ từ tim theo động mạch chủ chảy ra các động mạch rồi các tiểu động mạch
và các vi mạch (còn gọi là mao mạch) đến các cơ quan, tế bào. Máu đen từ các tế
bào, cơ quan đổ về các vi tĩnh mạch, dồn về các tiểu tĩnh mạch, về các tĩnh
mạch rồi dồn về tĩnh mạch chủ, về tim.
-
Động
mạch phổi dẫn máu đen từ tâm thất phải lên phổi. Tại phổi, máu nhả
carbonic và nhận oxy để chuyển từ đen sang đỏ. Tĩnh mạch phổi dẫn máu đỏ từ
phổi về tâm nhĩ trái.
PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP
Theo nguyên tắc, đo HA
luôn cần ống nghe để nghe tiếng mạch đập. Nhưng trong thực tế tôi không dùng
ống nghe mà chỉ theo dõi trạng thái hoạt động của kim mà phát hiện một số chức
năng khác của huyết áp kế ngoài trị số tâm thu và tâm trương:
-
Kim
dừng lại ≥ 5 nhịp trước khi giật lui: ít nhất cũng bị thiểu năng vành, thường
là thiếu máu cơ tim nếu chất lưỡi nhạt tới trắng.
-
Kim
giật lui ngắn một đoạn rồi giật lui dài hơn: có hở val 2 lá, nhiều hay ít
tùy mức độ chênh lệch của 2 trạng thái ngắn và dài. Kinh nghiệm cho thấy
tỷ lệ dài/ngắn = 2 là hở val ¼. Với Tây y thì hở ¼ là hở sinh lý, họ không điều
trị, nhưng theo tôi ta vẫn nên điều trị nếu được.
-
Trị
số tâm trương ≤ 50: hở val động mạch chủ.
-
Kim
giật lui ngắn ≤ 2 mmHg (một nấc nhỏ trên mặt đồng hồ HA kế): trương lực tim
yếu. Dương hư nếu có sợ lạnh. Nếu không sợ lạnh là tâm khí suy.
-
Kim
giật lui dài ≥ 4 mmHg (2 nấc nhỏ trên mặt HA kế): trương lực tim mạnh. Âm hư
nếu sợ nóng, tâm khí thịnh nếu không sợ nóng. Kiểu giật lui kim này thường gặp
trong bệnh Đường huyết cao hay Cholesteron huyết cao và các trường hợp có sốt
cao.
-
Kim
giật lui nhanh: máu loãng.
-
Kim
giật lui chậm: máu đặc (huyết tương thiếu, huyết cầu dư), hoặc có lipid huyết.
-
Kim
giật lui lúc nhanh lúc chậm hay lúc dài lúc ngắn hay có lúc bỏ nhịp: rối loạn
thần kinh tim.
-
Kim
giật lui khoảng 3 – 4 mmHg: trương lực tim bình thường, Âm Dương tương đối cân
bằng.
-
Việc chẩn
đoán Âm Dương bằng huyết áp kế này nên phối hợp với Vọng chẩn, Văn chẩn và Vấn
chẩn để tăng độ chính xác.
TP. Hồ Chí Minh, 1995.
BỆNH HỆ TIM MẠCH
Bệnh thuộc hệ tim mạch đa
số là loại bệnh có mức độ gây nguy hiểm cao cho sức khỏe và tính mạng, vì vậy
các bạn phải hết sức thận trọng khi gặp loại bệnh này. Sau đây là những bệnh
thường gặp mà tôi đã có thành công phần nào trong hệ bệnh này.
6.1. RỐI LOẠN THẦN KINH TIM
Là tên gọi chung của các
triệu chứng rối loạn nhịp tim (tim bỏ nhịp, tim đập lúc nhanh lúc chậm lúc mạnh
lúc yếu, tim đập nhanh hay chậm đều nhưng quá mức bình thường): điều chỉnh tổng
trạng, cào phản chiếu tim (tim ở ĐH nội tạng mặt – trán và tim trong ĐH trắc
diện), kiểm tra vùng D3-D7, nếu đau phải khai thông bằng đầu dò to cây sao chổi.
6.2. THIỂU NĂNG MẠCH VÀNH
Nếu nặng còn có tên gọi là
Thiếu máu cơ tim, thỉnh thoảng xuất hiện một hoặc nhiều các triệu chứng: nặng
ngực khó thở, tim đập mạnh, đau ngực vùng tim (có khi lan lên đầu cổ và ra tay).
Triệu chứng thường chỉ xuất hiện vài giây đồng hồ rồi tự biến mất, thường xuất
hiện khi gắng sức, khi xúc động hay khi nhiễm lạnh. Lưỡi từ nhạt đến rất nhạt;
hoặc đỏ bầm. Nguyên nhân do mạch vành bị co thắt do lạnh hoặc bít hẹp vì máu
đông hay mảng xơ vữa, cũng có thể do u bướu. Điều chỉnh tổng trạng, Tiêu viêm
khử ứ, phản chiếu tim, phản chiếu mạch vành (có 6 tuyến phản chiếu mạch
vành: từ 0 vòng lên 130 vào 65, từ 0 vào 73, từ 0 vào 61, từ 0 vào 7, từ 0
xéo xuống 29, từ 0 xéo xuống 347).
6.3. NHỒI MÁU CƠ TIM
Đây là tình trạng nặng đột
xuất của thiếu máu cơ tim. Đau dữ dội vùng ngực, vã mồ hôi nóng, huyết áp
cao đột ngột (HA tâm thu trên 170). Thuộc diện cấp cứu tại bệnh viện.
6.4. HUYẾT ÁP THẤP
Là một bệnh chứng còn
nhiều bí ẩn về cơ chế và nguyên nhân gây bệnh. Tuy cũng có thành công nhưng
không chắc chắn như các bệnh khác. Vẫn lấy điều chỉnh tổng thể làm chủ. Một số
trường hợp có thành công khi dùng bộ Bổ Tỳ (xem trong bộ Bổ Trung), phản chiếu
tim.
6.5. HUYẾT ÁP CAO
Là triệu chứng của một
bệnh nào đó trong cơ thể. Phải tìm cho ra căn bệnh gốc này. Chữa bệnh gốc xong
thì HA tự hạ và ổn định lâu dài. Trong thời gian chưa tìm ra gốc bệnh HA
luôn dao động cao hoặc cao ổn định, cho nên cần duy trì thuốc hạ áp cho đến khi
HA bắt đầu hạ ổn định 2 tuần liên tiếp thì giảm 1/2 liều thuốc HA, cứ thế cho
đến khi HA trở về mức bình thường, lúc này thử bỏ thuốc, nếu ổn định suốt 2
tuần liên tiếp thì có thể bỏ hẳn thuốc HA. Tốt nhất và an toàn nhất cho
bệnh nhân là bạn hãy để cho bác sĩ quyết định việc giãm liều thuốc hạ áp. Vì
khi tái khám nếu thấy HA đã giãm thì họ sẽ giãm liều cho bệnh nhân. Tuy vậy có
nhiều ca không thể bỏ thuốc hạ áp được mà phải uống một liều thấp
nhất thích hợp đến suốt đời. Các bạn không nên chủ quan với loại bệnh này như
chủ trương của một số thầy khác, vì có thể gây hại không cứu vãn được cho
bệnh nhân.
Có hai trường hợp tổng
quát về tăng HA. Huyết áp cao Âm chứng và Dương chứng. Trong cắt cơn tăng HA,
dùng bộ Thăng khi HA cao Âm chứng, dùng bộ Giáng khi HA cao Dương chứng; nếu bộ
Giáng không có hiệu quả bạn nên dùng bộ Bổ Âm Huyết. Trong điều trị, điều chỉnh
tổng trạng làm chủ lực. Tìm thêm tạng phủ có bệnh và điều chỉnh tạng phủ này.
Tìm hiểu cơ chế gây bệnh cho tạng phủ như viêm – tắc mạch – xơ hóa – vôi hóa
(sỏi)……v.v.. khiến tạng phủ mất hay giảm chức năng. Đôi khi tăng HA chỉ do tắc
mạch một nơi nào đó trong cơ thể, tìm cho ra chổ tắc này, thông mạch là xong.
6.6. RỐI LOẠN TUẦN HOÀN NÃO
Nặng đầu kèm choáng váng,
tăng ở tư thế đứng, không thay đổi ở tư thế nằm khi trở mình. HA bình
thường hoặc thấp. Điều trị: day dầu hay hơ có dầu Bộ Thăng, phản chiếu đầu (hàn
chứng: thiểu năng tuần hoàn não). Day vaseline bộ Giáng, phản chiếu đầu (nhiệt
chứng: huyết vùng đầu không thông, chưa phải là huyết ứ). Muốn khỏi bệnh lâu
dài cần điều chỉnh tổng trạng.
6.7. RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH
Chóng mặt, tăng khi thay
đổi tư thế nhất là khi nằm trở mình. Huyết áp bình thường. Điều trị: day dầu
hoặc hơ có dầu Bộ Thăng, phản chiếu đầu. Nhận xét: thông qua việc điều
trị hai bệnh chứng này, tôi cho rằng rối loạn tiền đình là một dạng thiểu năng
tuần hoàn não dạng đặc biệt chỉ xảy ra ở vùng Tiền đình. Đông y gọi bệnh thứ 6
và thứ 7 này là Huyễn vựng.
6.8. HỞ VÀ HẸP VAL TIM
Bệnh val tim có 2 loại: bệnh chức năng (do
thần kinh hoặc những nguyên nhân khác) và bệnh tổn thương thực thể (xơ hóa thường
do thấp tim gây di chứng, bệnh tim bẩm sinh như thông nhĩ…). Chúng ta chỉ
nên nhận điều trị những trường hợp bệnh lý chức năng. Chẩn đoán hàn nhiệt, phản
chiếu val tim. Val tĩnh mạch chủ: vùng huyệt 129 +. Val động mạch phổi:
vùng 60 +. Val 3 lá: vùng 73 + và toàn bộ nửa mặt bên phải từ tuyến VI trở
xuống. Val động mạch chủ: vùng 60 -. Val tĩnh mạch phổi: vùng 129 -. Val 2 lá:
vùng 73 – và toàn bộ mặt bên trái từ tuyến VI trở xuống.
Việc chẩn đoán chính xác cơ chế gây hở hẹp val tim rất khó cho chúng ta khi
không có cận lâm sàng. Do đó nếu không có kết quả chẩn đoán cận lâm sàng, ta có
thể chọn và loại suy các kỹ thuật tuần tự: gõ búa cao su, day dầu tiêu viêm,
hơ. Nếu có KQ cận lâm sàng cho biết rõ cơ chế thì:
- gõ búa cao su (1 -3 cái) khi lá val co thắt hoặc không rõ nguyên nhân.
- day dầu bộ TV, phản chiếu các lá val. Nếu không hiệu quả, có thể dán cao,
lưu dán 2 giờ.
- hơ khi các lá val phù nề.
Cần hóa giải ngay khi thấy phản tác dụng.
6.9. TÂM DƯƠNG HƯ
Hơ có dầu 19, nếu không
hiệu quả thì hơ thêm 189, nếu vẫn chưa hiệu quả hơ có dầu thêm Bổ trung
hay Thăng. Triệu chứng: huyết áp âm chứng, sợ lạnh, không làm việc được kể cả
việc nhẹ như quét nhà…..vv.
6.10.
TÂM KHÍ HƯ
Day
vaseline 19, nếu chưa hiệu quả day thêm 189, nếu vẫn chưa hiệu quả thì dùng them
bộ Thăng. Triệu chứng: huyết áp âm chứng, không sợ lạnh, làm việc nhẹ bình
thường, làm việc nặng thì mệt.
6.11.
HUYẾT ÁP LỆCH.
Khi đo huyết áp 2 tay, sẽ có khi huyết
áp 2 tay lệch nhau nhiều (trên 15mmHg). Tình hình này khá nguy hiễm cho bệnh nhân
nhất là khi họ có kèm triệu chứng chóng mặt hay đau một bên đầu (bên có trị số
tâm thu cao hơn). Hiện tượng này có nguyên nhân bế tắc vùng ngã ba động mạch
cánh tay-đầu. Day TVKỨ, cào vùng diện tích giới hạn bởi các huyệt 8-26-65-12
(sẽ có các điểm cộm cứng) bên có tâm thu thấp hoặc day nhiều lần cho đến khi
vùng này mềm mại hẵn.
Nếu huyết áp 2 tay lệch mà không có hiện
tượng đau đầu và vùng nói trên không cộm cứng là có bế tắc ở động mạch cánh tay,
sẽ thường đau hoặc tê hoặc mỏi một bên tay. Tìm sinh huyệt và giải tỏa nó.
Kiêng cữ cho hệ tim mạch: nói chung
cần tránh những thay đổi đột ngột về môi trường sống, thời tiết, nhiệt độ,
ăn uống và tình huống tinh thần. Không nên để bị cảm hay thương thực, những bức
xúc tình cảm vui lẫn buồn cao độ. Và kiêng các thức ăn theo cơ chế gây
bệnh trong đó LẠNH và CHUA là quan trọng hàng đầu vì hai vị này luôn làm co
mạch, co cân cơ.
TP. Hồ Chí Minh, 1997.
PHƯƠNG HƯỚNG ĐIỀU TRỊ CÁC DI CHỨNG LIỆT
Lương y Tạ Minh.
Liệt
do Tai Biến Mạch Máu Não (TBMMN, là tên gọi chung của xuất huyết não và nghẽn mạch
máu não mà trước đây thường gọi là nhũn não), liệt do Chấn Thương Sọ Não (CTSN)
và liệt do Viêm Não (VN) đều có căn nguyên từ việc tổn thương hoặc bế tắc trong
não. Tương tự ta có liệt do Chấn Thương Tủy Sống, liệt do Viêm Tủy Cắt Ngang;
hai trường hợp sau cũng đều do thương tổn hoặc chèn ép ở một đoạn tủy sống gây
liệt.
Tuy
nguyên nhân khác nhau nhưng các trường hợp nêu trên đều gây thương tổn và chèn
ép bế tắc cho não hay tủy sống là hệ thần kinh (gồm nhiều dây thần kinh chằng
chịt). Ta đã biết, hệ thần kinh hoạt động theo cơ chế giống như cơ chế của các
máy dùng điện năng. Hệ thống này hoạt động tốt hay kém là do chất lượng máy, chất
lượng dây dẫn; và do điện áp của hệ thống đủ hay thiếu.
Xét
hệ thống quạt máy vận hành nhờ điện. Ta nhận biết hệ thống này vận hành được
(thấy cánh quạt quay) nhờ các thông số: điện năng đến, động cơ, vật liệu dẫn điện,
mạch điện thông suốt, cánh quạt. Điện áp yếu hay hệ thống động cơ và dây dẫn
kém chất lượng thì quạt quay yếu; điện áp đủ, động cơ và dây dẫn tốt thì quạt
quay mạnh; nếu quá kém thì quạt không quay nổi dù điện vẫn vào. Cánh quạt quay
hay không là do những yếu tố trước nó hội đủ mức cần thiết hay yếu kém.
Tương
tự như vậy. Ta nhận biết cơ bắp hoạt động được hay bị liệt lệ thuộc vào các
thông số: năng lượng cung cấp từ máu; chất lượng hệ thống thần kinh từ não bộ đến
tủy sống đến các dây thần kinh ngoại biên, chất lượng các khớp TK (sinap). Các
thông số cần thiết này hội đủ một cách hoàn hảo thì hệ thần kinh chỉ huy các cơ
vận động được như ý; một hoặc nhiều trong các thông số này khiếm khuyết thì các
cơ vận động yếu hoặc ỳ ra dù tín hiệu thần kinh vẫn đến.
Quạt
máy không quay nổi khi điện năng thiếu, nếu không biết ta cứ cho điện vào thì một
thời gian sau hệ thống bị cháy. Tương tự (nhưng hơi khập khiễng), khi máu đến
không đủ, hệ thần kinh không chỉ huy nổi các cơ bắp dù các tế bào TK vẫn còn
thoi thóp sống. Nếu để thiếu máu lâu, vùng tế bào TK này có thể bị chết hẳn và
việc phục hồi vận động cho cơ do chúng chỉ huy là không còn hi vọng.
Vì
thế, việc phục hồi sinh lực cho hệ thần kinh là biện pháp chủ đạo của việc điều
trị các thể bệnh bại liệt. Trước đây, Tây y dùng các loại thuốc chống xuất huyết,
tan máu bầm, chống phù não nhằm giải tỏa các chèn ép; nữa cuối thập niên 90
Trung Quốc đề xướng và thực hiện việc mổ sọ não để hút máu ứ cho bệnh nhân bị
xuất huyết não cũng từ nguyên lý này. Từ đó việc cứu sống cho bệnh nhân xuất
huyết não nặng không còn khó khăn. Hiệu quả điều trị di chứng liệt sau TBMMN
cũng tiến bộ vượt bậc. Nhưng trên thực tế ta thấy còn không ít BN vẫn phải chịu
di chứng nặng. Vì sao?
Thú
vị ở chỗ là thực tế cho thấy việc cải thiện di chứng cho các bệnh nhân tổn
thương não-tủy có kết quả tốt hơn vẫn thuộc lãnh vực dùng huyệt dù thuộc bất cứ
trường phái nào. Vì sao?
Năm
1988, tôi xây dựng được bộ Tan Máu Bầm có công dụng phá tan máu ứ rất mạnh và
được dùng phổ biến trong giới DC. Bộ huyệt này hiện nay đã được tôi triển khai
thêm và đặt lại tên mới TIÊU VIÊM KHỬ Ứ vì nhận thấy tác dụng của nó rộng hơn
việc làm tan máu bầm. Bộ huyệt này luôn được sử dụng để giải quyết các di chứng
của chấn thương, trong hậu phẫu và đều thành công tốt đẹp.
Nhưng
mãi đến khoảng năm 1997-98 tôi mới áp dụng vào việc chữa liệt do TBMMN sau khi
chữa thành công liệt do chấn thương tủy và chấn thương sọ não; và sau khi biết
thông tin TQ tách hộp sọ hút máu ứ trong xuất huyết não. Kết quả không ngờ là
hiệu quả nhanh và cao hơn các phác đồ trước đã áp dụng từ 1987. Tôi đã công bố
rộng rãi khám phá mới này trong “Kỷ Yếu 20 năm DC-ĐKLP” do Thầy Châu chủ biên.
Một
thú vị bất ngờ khác nữa là vẫn có thể can thiệp tốt các trường hợp nghẽn mạch
máu não gây tai biến mà trước đây thường được gọi là “nhũn não”. Kể cả trường hợp
nghẽn mạch do mãng xơ vữa.
Khi
áp dụng bộ TIÊU VIÊM KHỬ Ứ vào việc chữa di chứng liệt do các nguyên nhân
TBMMN, CTSN thành công, tôi vẫn luôn thắc mắc vì sao Tây y đã hút máu ứ, đã
dùng thuốc để tan máu ứ mà BN vẫn còn liệt, nhất là với CTSN. Chỉ khi tôi trị
thì chức năng vận động cơ mới tiến triển nhanh một cách rõ rệt?
Không
có phương tiện để tìm hiểu, tôi đành tự nêu các vấn đề sau:
Có
phải biện pháp hút máu ứ bằng phẫu thuật chỉ giải quyết được các vùng máu lớn
thấy được, CT hay MRI cũng chỉ thấy được còn máu ứ lớn nên kiểm tra thấy rằng
đã thông. Còn những hạt hồng cầu li ti kẹt đâu đó trong các vi mạch mà CT và
MRI không thấy được vẫn có thể gây thiếu máu cho các tế bào thần kinh của nó phụ
trách. Vì thiếu máu nên các tế bào TK này không đủ năng lượng để chỉ huy các cơ
liên quan, mặc dù tế bào TK này chưa chết hẳn.
Có
phải thuốc không đánh tan hết được các hạt hồng cầu li ti còn lại trong các vi
mạch máu? Có phải di chứng liệt vẫn còn vì máu ứ hay là vì một yếu tố khác khiến
cho các tế bào TK không làm được việc?
Hay
là do cả 2 yếu tố: huyết ứ li ti và cái gì khác máu ứ còn tồn đọng trong hệ thống
thần kinh khiến hệ thống hoạt động kém hẳn.
Nêu
thì nêu nhưng giải đáp được cho rõ ràng và chính xác thì tôi chịu thua vì ngoài
khả năng kỹ thuật.
Không giải đáp được nhưng trên lâm sàng, tôi luôn
thành công hơn các giải pháp khác. Bởi có nhiều BN đã bị vài năm từng được điều
trị bằng các giải pháp khác, bởi những thầy thuốc khác và không chỉ một thầy
thuốc mà vài thầy thuốc trước tôi. Tuy nhiên trong những trường hợp này, hiệu
quả cải thiện không cao hơn nhiều, nhưng vẫn có tiến bộ thêm sau khi tôi điều
trị. Còn những trường hợp mới bị, sau khi ổn định được huyết áp xuất viện hoặc
sau khi mổ sọ não do chấn thương xuất viện mà được tôi trị ngay thì không ai là
không đi đứng được, tuy rằng mức độ hồi phục có khác nhau.
Từ
những kết quả đó tôi tin là mình đang đúng hướng và đúng nhất từ trước đến giờ.
Bởi nguyên lý rất phù hợp với Tây y có kỹ thuật cận lâm sàng cụ thể. Nói lên điều
này là một điều không hay xét về khía cạnh “khiêm tốn” theo Đông phương.
NHƯNG……
đã hơn 20 năm lăn lộn với nghề, lang thang trong bụi đường và mưa nắng khắp
hang cùng ngỏ hẽm của Sài Gòn-Chợ Lớn và các vùng lân cận như Bình Dương,
Biên Hòa, Thủ Đức, Bình Chánh, Nhà Bè và hiện nay là Hà Nội, chứng kiến biết
bao cảnh đời đau khổ của bệnh nhân và gia đình họ tôi không thể im lặng chỉ để
được hai tiếng “khiêm tốn”!!
Tin
và dùng kinh nghiệm nhỏ nhoi này của tôi hay không là tùy quý vị nhưng nghĩa vụ
của tôi là phải nói lên sự thật. Nếu không, tôi có lỗi với những BN đã qua của
tôi và với những BN có thể sẽ mắc phải trường hợp đau thương này.
Kính
mong quý đồng nghiệp và quý bậc trưởng bối cảm thông và lượng thứ.
Bây
giờ, tôi xin trình bày toàn bộ chi tiết kinh nghiệm của tôi, tuy đã được nói đến
trong “Kỹ Thuật Chẩn Trị Bệnh Bằng DC-ĐKLP Kết Hợp Đông Tây Y” nhưng hơi ngắn gọn
nên các anh chị em còn yếu về DC không dùng được vì không hiểu hoặc không tin
vì thấy quá đơn giản.
Các
bạn đã có tài liệu huấn luyện của tôi cần cập nhật theo bài dưới đây tuy rằng
có chung tựa đề vì lần này tôi sẽ viết chi tiết hơn.
ĐIỀU TRỊ LIỆT DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO.
Lương y Tạ – Minh.
Tai
biến mạch máu não(TBMMN) và chấn thương sọ não(CTSN) thường đưa đến liệt vận động,
đôi khi liệt cả cảm giác và rối loạn năng lực tinh thần. Chỉ có một số ít trường
hợp phục hồi hoàn toàn theo cơ chế tự khỏi và cơ chế bù,
tuy nhiên phải thấy rằng đây là nhờ tổn thương quá nhẹ. Có 2 cơ chế bù: bù tại não là vùng não lành làm thay
chức năng cho vùng não bị thương; cơ chế bù tại cơ là những cơ lành làm thay việc
cho cơ bị tổn thương. Chưa hết, vào đầu thập niên 00 của thế kỷ 21, người Mỹ
phát hiện ra rằng các tế bào TK có thể tái tạo nhưng phải mất khoảng hơn 3 năm.
Chính nhờ các cơ chế này mà một số BN nghèo không đủ sức theo đuổi việc điều trị
vẫn phục hồi được một số chức năng vận động sau một thời gian khá dài. Tuy
nhiên, trên thực tế không phải ai cũng may mắn như thế. Vì cũng có một số BN bị
liệt vài năm đến tôi chữa mới bắt đầu phục hồi. Một số ít bệnh nhân
thoát khỏi tình trạng liệt này một cách toàn diện do may mắn bị tổn thương
tương đối nhẹ và được điều trị ĐÚNG CÁCH NGAY TỪ ĐẦU. Đa số là để
lại cho bệnh nhân vài di tật về thể xác hoặc tinh thần khi bị hơi nặng hoặc được
điều trị không đúng cách kịp thời ngay từ đầu.
Trong
di chứng liệt do TBMMN và CTSN thì điều trị đúng cần phải kết hợp cả ba giải
pháp đồng bộ một cách khéo léo: THUỐC MEN, TẬP LUYỆN, HUYỆT ĐẠO.
Việc
dùng thuốc thì tùy, Tây hay Đông cũng được. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi -
trong TBMMN - thời gian đầu nên dùng thuốc tây (có BS chỉ định và theo dõi) cho
đến khi HA ổn định thật sự, vì tuy đã xuất viện HA của BN vẫn có thể lại bất ổn
và tai biến tiếp là điều rất dễ xảy ra. Việc ổn định HA khá phức tạp, dù
phương pháp chúng ta có thể làm được nhưng đòi hỏi phải vận dụng y lý rất nhiều
về Tây lẫn Đông y nên không thể trình bày trong bài viết này, các phác đồ về
huyết áp hiện nay thường mang tính cắt cơn hơn là điều trị. Cho nên các
anh chị em nên kết hợp với bác sĩ chuyên khoa tim mạch để khống chế HA cho bệnh
nhân, tránh tai biến rất dễ xảy ra tiếp theo khi HA còn dao động.
Tập
luyện có hai phần: thụ động và chủ động. Tập thụ động là kỹ thuật viên hay
người nhà tập cho bệnh nhân, luôn luôn rất cần khi bị liệt cứng. Tập chủ động
là bệnh nhân tự luyện tập theo sự hướng dẫn kềm cặp của Kỹ thuật viên
(trong thời gian đầu hoặc tự nghĩ ra các tư thế trong sinh hoạt thường
ngày trong giai đoạn sau), chỉ cần từ khi bệnh nhân bắt đầu vận động
được dù còn rất yếu ớt. Việc này đòi hỏi bệnh nhân phải có ý chí quyết thắng bệnh
tật. Tuy nhiên không nên quá cố sức sẽ gây phản tác dụng. Tốt nhất nên nhờ
KTV trong thời gian đầu.
Về
huyệt đạo, đúng hơn là về DC-ĐKLP, LÀ CHỦ ĐỀ CHÍNH CỦA BÀI NÀY. Tôi xin cống hiến
các kinh nghiệm sau đây sau mười mấy năm chuyên nghiên cứu và điều trị loại bệnh
này. Có thể nói rằng đây là phác đồ điều trị đặc hiệu cho bại liệt do
TBMMN và CTSN.
Phác đồ điều trị:
1.
Tuần
lể đầu tiên: 156 - +, 38 - +, 7 - +, 50, 37, 61 - +, 3 - +, 290 - +, 16 -
+, 26, 240, 347, phản chiếu đầu theo đồ hình Dương,Trắc diện và cuối cùng là
Âm, phía đối bên bị liệt.
2.
Từ tuần
lể thứ hai trở đi: khi bệnh nhân bắt đầu tự vận động được các cơ phận bị
liệt dù còn yếu ớt, chúng ta bắt đầu tác động thêm phản chiếu hoặc cục bộ cơ phận
bị liệt, phía cùng bên bị liệt. Gồm phản chiếu nửa lưng, tay chân bên liệt.
Tuy nhiên chỉ tác động bình thường chứ không nên quá nhiều. Đồng thời
khuyên bệnh nhân nên bắt đầu luyện tập chủ động một cách vừa sức. Sự quá
tải trong luyện tập sẽ gây phản tác dụng. Nên điều chỉnh tổng trạng
cho bệnh nhân theo bài “Phục Hổi Chính Khí” để đạt hiệu quả cao hơn và hoàn chỉnh
hơn.
-
Với tại
chỗ ta tác động khai thông vào gáy, lưng, tay chân bên bị liệt.
-
Khi lực
chân của BN đã mạnh, tự đứng khá lâu không ngã (trên 30 giây) nhưng hễ bước đi
thì lại ngã là do có tổn thương vùng tiểu não, ta cần tác động phản chiếu tiểu
não là vùng sơn căn ấn đường, vùng đầu mũi và môi, cằm (theo ĐH phản chiếu não
bộ). Nếu
kết quả CT hay MRI cho biết có tổn thương tiểu não thì ta cần can thiệp ngay
vùng này từ đầu mới có kết quả cao được.
Kỹ thuật: day ấn hoặc rung các huyệt và dùng cào nhỏ cào
phản chiếu đầu hoặc cơ phận bị liệt theo các đồ hình nêu trên. Nếu bên liệt lạnh
mát hơn bên lành thì nên tác động huyệt và vùng phản chiếu có bôi dầu cao, sau
khi nhiệt độ 2 bên như nhau thì không dùng dầu nữa. Nếu nhiệt độ 2 bên như nhau
thì không cần dùng dầu.
Biện luận: TBMMN và CTSN đều làm tổn thương não. Hậu quả của
sự tổn thương này là gây liệt cho các cơ phận vận động liên quan dưới não
như mặt, tay chân…v..v. Vì vậy gốc bệnh là ở não, các cơ phận chỉ là ngọn.
Do đó cứu lấy não bộ là việc đầu tiên phải làm trong hai loại bệnh chứng
này. Như vậy khi não bộ được phục hồi thì tay chân lập tức phục hồi. Chỉ
những trường hợp lâu ngày cân cơ bị teo rút thì ta cần tác động mạnh trực
tiếp vào các vùng tứ chi để tìm cách hồi phục các cân cơ này.
Bộ huyệt nêu trên có tác dụng tan máu bầm, chống viêm, lọc ứ ở não và cải
thiện sự lưu thông máu ở não.
CHÚ Ý:
-
Cần kiêng cử không ăn uống các thức chua, lạnh
và các thức gây viêm (xem bài “Hướng dẫn về kiêng cử”). Tránh tất cả các xúc động,
các thay đổi đột ngột về nhiệt độ, về động tác.
-
Việc lăn thêm tuy cần thiết nhưng lăn quá nhiều ở
tay chân (vài ba trăm lượt mỗi nơi) khi não chưa điều khiển chúng được chỉ khiến
cho các cơ bị nhão thêm và gây khó khăn trong điều trị về sau mà thôi!! Tuy
nhiên trong liệt cứng thì lăn là biện pháp tốt trong mọi giai đoạn nhưng cũng
nên vừa phải.
-
Việc xung điện vào tay chân cũng không nên dùng
quá sớm vì rất dễ gây phản tác dụng khi tế bào TK còn yếu không chịu đựng nổi
kích thích của dòng điện có thời lượng và cường độ cao hơn ngưỡng của nó lúc bấy giờ.
Mà lúc này làm sao biết được sinh lực của tế bào TK là bao nhiêu nếu không
được đo đạc bằng máy móc hiện đại? Nếu chúng ta dựa vào cảm giác của bệnh nhân
để chọn cường độ và tần số xung, thì xung bao lâu là vừa đủ? Điều này không thể
xác định bằng cảm giác chủ quan của bệnh nhân cũng như của chúng ta được. Vì vậy
cần thận trọng trong việc xung điện.
-
Trong CTSN chúng ta sẽ thường gặp ý kiến của BS
cho rằng không được châm cứu mà chỉ cần tập VLTL. Tuy nhiên DC-ĐKLP không
phải là châm cứu và chúng ta không đụng đến vết thương ở đầu mà chỉ dùng huyệt ở
xa vùng bị thương. Điều quan trọng là không nên dùng những kỹ thuật mạnh tay
gây đau đớn cho bệnh nhân đang trong tình trạng suy yếu về hoạt động của hệ thống
TK. Dù sao có điều trị thêm bằng huyệt vẫn mau phục hồi hơn là chỉ
luyện tập suông, điều này đã được xác định trên thực tế lâm sàng trong quá
trình làm việc của tôi. Nay phổ biến cho các anh chị em cùng dùng.
Chúc tất cả
anh chị em thành công trong việc áp dụng bài viết này để điều trị những bệnh
nhân bị bại liệt do hai nguyên nhân trên.
Trong
bài này, tôi lấy ví dụ là BN bị liệt bên trái để minh họa hình vẽ vùng phản chiếu
đầu các đồ hình Âm, Dương, Trắc diện.
CHÚ THÍCH: liệt do TBMMN là
một bệnh của hệ thần kinh nhưng đó lại là hậu quả của những vấn đề của những nội
tạng bên dưới não và hệ tuần hoàn. Do đó muốn điều trị tốt loại bệnh này thì ta
cần điều trị tốt các bệnh của các nội tạng sau khi các triệu chứng liệt đã giảm.
Có như vậy thì mới có thể đạt được mong muốn giữ kết quả điều trị ổn định cho bệnh
nhân lâu dài, tránh và ngăn ngừa tái phát cho bệnh nhân được, vì loại bệnh này
rất dễ tái phát. Vì vậy mà tôi xếp loại bệnh này sau các bệnh hệ thống khác. Bởi
vì khi học đến đây các bạn đã phần nào có hiểu biết về bệnh của các hệ thống
kia.
TP. Hồ Chí Minh, 1997.

Nhận xét
Đăng nhận xét