BỆNH HỆ TIÊU HÓA
3.1. NUỐT NGHẸN
Nuốt
vào khó khăn, thậm chí không nuốt thức ăn thức uống xuống được. Đây là có trở
ngại vùng từ cổ họng đến cuối thực quản. Thường gặp do có một đoạn thực quản bị
co thắt (do lạnh, do kích xúc thần kinh, do có tổn thương, do thiếu dinh dưỡng
cục bộ, có thể do hỗn hợp), cũng có thể do có khối u trong hay ngoài thực
quản chèn ép. Cũng có thể do val Tâm vị không mở, nguyên nhân cũng có nhiều.
Khi chẩn đoán cần tìm cho ra nguyên nhân cụ thể, kết hợp với nội soi càng tốt.
Điều trị: điều chỉnh tổng trạng, trị theo cơ chế, phản chiếu nơi có bệnh (cần
dò sinh huyệt dọc từ 312 đến vùng 1, 61 -).
3.2.
ĂN VÀO ÓI RA
Thường
do hàn tà ở Vị, điều trị: làm ấm dạ dày. Cũng có khi do dạ dày bị viêm loét,
thức ăn cọ xát kích thích làm ói, điều trị: theo cơ chế. Cần kết hợp với Tây y.
Triệu chứng này cũng thường gặp trong bệnh viêm họng ở trẻ em. Khác nhau ở chỗ
viêm họng thì ăn vào là ói ngay không hoàn tất được bữa ăn, còn nếu do Vị hàn
thì ăn xong một lúc sau mới ói.
3.3.
ĂN KHÔNG TIÊU
Loại
bệnh này thường phát đột ngột hoặc lâu lâu mới bị.Có nhiều cơ chế:
-
Do dạ dày không co bóp hay co bóp yếu: thức ăn
bị lên men chua nên sẽ có ợ chua, vừa đau vừa tức vùng thượng vị. Điều trị: day
dầu Bổ trung, phản chiếu dạ dày.
-
Do dạ dày không tiết dịch vị: đau tức và xót xa
bào bọt (như đói bụng) trong dạ dày càng lúc càng tăng. Điều trị: dùng bộ Bổ Âm
huyết và phản chiếu dạ dày, hoặc uống nước dừa tươi một cách chậm rãi cho đến
khi thấy hết xót xa thì ngưng, thường chỉ cần chừng ½ ly lớn. Do dịch vị dạ dày
không đủ thành phần: chỉ đau tức mà không xót xa bào bọt; điều trị: dùng bộ Bổ Âm
huyết, phản chiếu dạ dày.
-
Do Tiểu trường bị lạnh: dạ dày tức nhiều hơn
đau, nhịn ăn thì giảm tức, không ợ hoặc ợ hôi. Nếu nhịn ăn một bữa thì đói
trước khi đến bữa ăn kế tiếp. Còn hai trường hợp trên thì dù nhịn ăn vẫn không
giảm đau tức có khi còn tăng lên. Điều trị: làm ấm Tiểu trường.
LƯU Ý: nếu dùng các giải pháp
nêu trên mà không hiệu quả thì có thể có tổn thương thực thể như viêm loét, u
bướu. Cần khám theo cận lâm sàng (nội soi, chụp cản quang, chụp cắt lớp).
3.4.
ĐAU BAO TỬ
Triệu chứng
chung, thường xuyên xảy ra: Đau vùng thượng vị (vùng vị trí của dạ dày).
Có
hai dạng chính thường gặp là viêm và loét hoặc viêm lẫn loét. Phương pháp chẩn
đoán chính xác nhất là nội soi hoặc chiếu chụp. Dựa vào lâm sàng, có các bệnh
sau:
-
Viêm bao
tử do lạnh: thường lên cơn đau về đêm khoảng 23g đến 3 giờ, khi đau hay ứa
nước miếng (nước giải) lạt hoặc hơi mặn, cận lâm sàng không phát hiện được. Hơ xức
dầu phản chiếu dạ dày. Cữ ăn uống lạnh.
-
Loét dạ dày: đau tăng khi đói, cũng có lúc ăn
xong đau hơn có thể gây ói, nội soi cho kết quả chính xác. Cắt cơn đau bằng
vaseline hay nước đá. Nên trị theo Tây y, DC chỉ hổ trợ giãm đau và hiệu quả
nhanh hơn mà thôi. Cữ chua tuyệt đối đến suốt đời thì mới không tái phát,
tuy nhiên, thỉnh thoảng có thể dùng một lần với nồng độ thấp. Hoặc tốt nhất là
dùng vitamin C loại tan trong ruột để bổ sung vit. C cho cơ thể có thể bị thiếu
do cữ chua. Nhưng theo tôi ở Việt
-
Viêm dạ
dày:
·
Viêm
phù nề: đôi khi nội soi không phát hiện ra nhưng chụp cản quang thì
thấy rõ vì không viêm niêm mạc dạ dày. Thường do lạnh, đau tăng khi ăn uống
thức ướp lạnh hay các thức ăn quá mát, thường có những cơn đau về đêm kèm với
hiện tượng ứa nước miếng hơi mặn hay nhạt. Điều trị: làm ấm dạ dày bằng xoa
dầu, dán cao hay hơ ngải cứu phản chiếu dạ dày, day dầu tiêu viêm, 290, 7, 347.
·
Viêm
xung huyết: nội soi thấy rất rõ, cơn đau không có quy luật. Day
vaseline Bổ Âm huyết, Tiêu viêm, lăn gai phản chiếu dạ dày. Loại bệnh này
rất khó cho mọi giải pháp hiện nay. Hầu hết là cắt cơn đau. Liên quan mạnh đến
tình hình tinh thần tiêu cực.
-
Sa dạ dày:
ăn vào thì cảm thấy nặng nề vùng dạ dày và mệt mỏi toàn thân tay chân như không
có sức, nằm nghỉ một lúc thì hết, ngồi dậy hoặc đi đứng một lúc thì nặng nề và
mệt mỏi lại (khi còn no bụng). Điều trị: lần đầu nên hơ xoa dầu bộ Thăng, phản
chiếu dạ dày và vùng trên dạ dày. Các lần sau có thể day cào bằng dầu. Nặng thì
có thể hơ xoa dầu tại vùng bụng theo nguyên tắc phóng chiếu. Nếu BN có huyết áp
Dương-chứng thì cần đưa về cân bằng hoặc âm chứng trước rồi mới trị bệnh này,
và luôn theo dõi tình hình âm dương của huyết áp để điều chỉnh kịp thời, nếu
không ta có thể gây tai biến não cho BN. LƯU Ý: có một số bệnh nhân có
thói quen uống thật nhiều nước vào sáng sớm, đây là một nguyên nhân thường gặp
trong bệnh sa dạ dày. Uống nước nhiều vào sáng sớm mới thức dậy là theo một lý
thuyết xuất phát từ Nhật nhằm mục đích dễ đại tiện, tuy nhiên có nhiều hậu quả
xấu như to tim, sa giãn phúc mạc khiến sa nội tạng trong đó dạ dày dễ bị nhất,
phù không rõ nguyên nhân…
3.5.
SÔI RUỘT
Tiểu
trường giảm chức năng, có thủy ẩm trong ruột, thường đi cầu phân nhão hoặc lỏng
lẫn đặc. Điều trị: làm ấm Tiểu trường bằng hơ xoa dầu hay dán cao, 290, 7, 347.
3.6.
TIÊU CHẢY
-
Do nhiễm
trùng: đau bụng trước một thời gian từ 30 phút đến 1 giờ rồi mới có
cảm giác mắc cầu rồi bị đi cầu, khi đi cầu hậu môn có cảm giác bị nóng, phân
rất hôi thối, lần đi cầu đầu tiên thường chỉ nhão chứ không lỏng. Diễn biến từ
nhẹ tới nặng dần. Ấn vùng bụng thấy đau: đau vùng quanh rốn là viêm Tiểu
trường, đau xa trên rốn và vùng hai bên hông là viêm Đại trường. Điều trị: Tiêu
viêm, phản chiếu. Nên dùng nước đá áp lạnh, nên kết hợp với bác sĩ để dùng
kháng sinh ngay, không nên để lâu có hại cho niêm mạc ruột biến thành rối loạn
mạn tính khó trị về sau.
-
Do nhiệt
tà: đau bụng rồi mắc cầu và tiêu chảy ngay một cách đột ngột. Hậu môn nóng,
phân lỏng ngay từ lần đi cầu đầu tiên và hôi thối. Đặc điểm là vừa đi cầu vừa
đánh rắm, có khi phân lỏng bắn tung tóe như phun vòi sen!! Điều trị: áp lạnh
124, 34, 106, 26, 143, phản chiếu Tiểu và Đại trường.
-
Do hàn tà: đau bụng rồi mắc và đi cầu đột ngột, phân lỏng chảy như rót nước không
đánh rắm, không hôi mà tanh, không nóng hậu môn. Điều trị: hơ xoa dầu sau đó
dán cao bộ Thăng.
-
Do nhiễm
độc thực phẩm: triệu chứng không rõ rệt về mặt hàn hay nhiệt, có thể xuất
hiện thêm những triệu chứng của nhiễm độc như tê người, chóng mặt, nhức đầu,
buồn nôn, nôn. Đặc biệt là không đáp ứng rõ rệt với những liệu pháp điều trị
nêu trên. Điều trị: bộ Tiêu viêm giải độc. Xem thêm bài “Tiêu Viêm Giải Độc”.
3.7.
ĐI TIÊU RA MÁU
-
Phân đen: tổn thương vùng dạ dày hoặc Tiểu
trường.
-
Ra máu bầm: tổn thương vùng kết tràng lên hoặc
kết tràng ngang.
-
Ra máu tươi: có tổn thương ở vùng kết tràng
xuống, xuống đến vùng hậu môn.
Phác
đồ chung: 26, 61 - +, 38 - +, 156 - +, 16 - +,0 - +. Phản chiếu vùng bị tổn
thương.
Cần
chẩn đoán hàn hay nhiệt chứng. Dò sinh huyệt, có thể kết hợp ấn vùng bụng tìm
nơi đau tức.
-
TRĨ, thực
chất là một loại u nhọt trong trực tràng. Dân gian thường gọi là trĩ nội vì
không thấy, không sờ được, nhưng có một số trường hợp mụn trĩ mọc gần hậu môn,
lòi ra ngoài nên cũng thấy và sờ được, gọi là trĩ ngoại. Triệu chứng chủ yếu là
chảy máu như cắt tiết gà dù có thể không đau khi đại tiện. Nếu là trĩ thì ngọn
có thể có nhiệt nhưng gốc luôn là hàn. Do đó cần chẩn đoán hàn nhiệt trước khi
mỗi lần chữa. Hàn chứng thì dùng hơ xức dầu hoặc day cào với dầu hoặc dán cao,
nhiệt chứng thì dùng day cào với vaseline hoặc gõ mai hoa (không dùng nước đá,
áp lạnh chỉ thích hợp với các bệnh cấp tính, trĩ là bệnh mạn tính). Trong thực
tế có thể phức tạp hơn là phải biến đổi hàn – nhiệt như thế mấy lần mới xong. Đừng
quên điều chỉnh tổng trạng. Dùng phác đồ chung nêu trên, phản chiếu; chỉ thay
đổi kỹ thuật cho hợp với hàn nhiệt.
3.8. SA TRỰC TRÀNG (phụ: Sa nội tạng)
Dân gian thường gọi lầm là trĩ ngoại vì thấy và sờ
được. Ít khi chảy máu nhưng khó chịu ở hậu môn khi vận động ; chỉ có máu
và đau rát khi bón phân to và cứng làm rách hậu môn. Hai trường hợp trĩ và sa
trực tràng này cần khám thực tế mới chẩn đoán phân biệt tốt được.
Nói chung về các chứng sa nội tạng đều cần Bộ Thăng. Tùy thể
trạng mà hơ xức dầu hay chỉ day ấn, luôn cần phản chiếu nội tạng bị sa và hệ
thống mạc treo nội tạng đó. Có thể tác động thêm theo hệ phóng chiếu.
3.9. BÓN
Bón là đi cầu không bình
thường, hoặc vài ngày mới đi cầu một lần hoặc là đi cầu khó khăn. Phân có thể
khô: bón táo, phân có thể nhão: bón ướt. Phân có thể to bình thường hay phân
cũng có thể nhỏ chừng bằng ngón tay út. Các tình trạng phân thường gặp:
-
Đầu cứng sau mềm, phân to bình thường: nhu
động ruột kém, có thấp thủy nhẹ: day dầu Bổ trung, cào dọc theo phản chiếu
khung Đại tràng.
-
Cứng từ đầu đến cuối, phân to bình thường: nhu
động ruột kém, không có thấp thủy. Điều trị như trên nhưng không dùng dầu mà
dùng vaseline.
-
Từ mềm tới nhão, hình dáng bình thường: có thủy
ẩm. Day dầu Bổ trung, 290 - +, 7 - +, 347 - +, 87.
-
Từ mềm tới nhão, phân nhỏ như ngón tay út: có
thủy ẩm và phù nề niêm mạc đại tràng. Day dầu hoặc hơ xức dầu Bổ trung, 290 -
+, 7 - +, 347 - +, phản chiếu khung Đại tràng.
-
Phân nhỏ cứng như phân dê: có co thắt hoặc khối
u chèn ép vùng kết tràng ngang hoặc xuống hoặc vùng Sigma. Lâm sàng: đau cố
định tại một điểm ở các vùng nêu trên trước khi mót cầu và đi cầu. Cận lâm
sàng: phim cản quang hay nội soi. Điều trị: day vaseline Bổ Âm Huyết, phản
chiếu nếu do co thắt. Tiêu viêm, phản chiếu nếu do khối u. LƯU Ý: Trường
hợp này nếu đau nhiều hoặc có máu và trị không dứt được thì nên nghĩ đến
ung thư, cần tầm soát ung thư.
3.10.
VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
Có
hai loại với hai triệu chứng khác nhau.
-
Loại thứ nhất: tiêu chảy thường xuyên khi ăn
uống phải thức ăn mát như rau quả tươi sống hay nấu chín hoặc một số loại thức
ăn uống không thích hợp với cơ thể. Điều trị: day dầu và dán Bổ trung, tiêu
viêm, phản chiếu khung Đại tràng, Tiểu tràng.
-
Loại thứ hai: xen kẽ với những ngày bón không đi
cầu là có ít nhất một ngày đau bụng tiêu chảy. Tây y thường gọi là Viêm Đại
Tràng Kích thích. Day tiêu viêm, vùng huyệt 104+. Cần chẩn đoán hàn nhiệt
để có kỹ thuật tương ứng.
3.11.
ĐAU VÙNG BỤNG
Đây
là loại triệu chứng thường gặp với hiện tượng đau cả vùng bụng, đôi khi không
xác định được nơi đau chính xác cụ thể. Có khi điểm đau chạy lòng vòng, có khi
đau lan tỏa cả vùng bụng, có khi lan ra tới lưng hay từ lưng lan ra trước bụng nhưng
không gây đi cầu lỏng, nếu có thì chỉ một lần rồi thôi. Đặc điểm của nó là luôn
có sốt, có thể cao. Đây là một triệu chứng của một cơ quan nào đó trong vùng
bụng bị viêm cấp hoặc bế tắc như tắc mật, sỏi niệu.
Đối với triệu chứng này muốn chẩn đoán tương đối
đúng cần ấn vùng bụng tìm điểm trung tâm của vùng đau. Khi tìm được trung tâm
điểm đau thì dựa vào cơ thể học mà đoán cơ quan có vấn đề. Có thể kết hợp với
những triệu chứng chi tiết kèm theo thì chẩn đoán gần với chính xác hơn. Thí
dụ: khi viêm cơ thẳng bụng thì không thể tự ngồi dậy được vì trong khi cố ngồi
dậy thì cơn đau tăng dữ dội; khi viêm tụy hay ống mật thì không thể ăn uống gì
vì ăn vào là nôn ói ngay……v.v.. Triệu chứng rất phong phú, cần kinh nghiệm
nhiều. Điều trị: nên đưa ngay đến bệnh viện gần nhất vì đây thuộc loại
cấp cứu, cần nhiều phương tiện kỹ thuật của bệnh viện.
Các
bạn cần ghi nhớ: an toàn cho bệnh nhân là trên hết. Cho nên không được giữ bệnh
trong những trường hợp thuộc loại cấp cứu.
Nhận xét
Đăng nhận xét