BỆNH HỆ HÔ HẤP
1.1. VIÊM HỌNG
Những
bệnh chứng thuộc viêm họng gồm có: viêm amidan, viêm họng hạt, viêm vòm khẩu
cái, viêm thanh quản, viêm VA. Trong các bộ phận này thì VA là bộ phận có
vị trí cao nhất, thanh quản có vị trí thấp nhất.
Viêm
họng luôn có đau họng, có thể có ho,
có thể có đàm. Nghe phổi thấy bình thường.
Dùng Diện chẩn chẩn đoán: Lăn đinh, que
dò để quẹt vùng phổi xem sao, ngải cứu hơ nếu hàn.
1)
Viêm Amidal:
nói và nuốt đều đau và có cảm giác nghẹn nghẹt hai bên cổ họng. Điều trị: Tiêu viêm,
12 đến 240; 275, 14, 277 (Tam giá Amidal).
2)
Viêm họng hạt:
nói và nuốt đều đau, nuốt đau hơn. Cần chẩn đoán Hàn-Nhiệt. Điều trị: Tiêu viêm,
phía sau dái tai, từ huyệt 56 đến 15, kéo dài xuống ngang khoảng 308.
3)
Viêm vòm khẩu
cái (viêm vòm họng): nói đau
hơn nuốt, không nghẹt, vùng giữa và trên họng (chỉ nghẹt khi viêm cấp tính và
nặng). Điều trị: Tiêu viêm và đồng ứng (da hổ khẩu bàn tay, cả hai mặt).
Nhiệt thì năn đinh. Hàn nhẹ thì cào dầu,
hàn nặng thì hơ ngải cứu
4)
Viêm
Chỉ
sốt mà không đau khi nói nuốt. Sốt
khá cao, hay gặp ở trẻ em. Dò phản chiếu, phóng chiếu VA 27, 108-26.
Sốt
cao không biết bệnh gì, sốt trên
38/39. Dò phản chiếu các
nơi: amidal, họng, họng hạt, mũi, phổi, họng đều không thấy đau gì cả. Vậy là chỉ còn do bị
viêm VA.
5)
Viêm thanh quản:
đau vùng dưới họng và nghẹt khi nói lẫn nuốt nhưng nói đau hơn. Điều trị: Tiêu viêm,
phản chiếu (vùng từ 14 kéo thẳng xuống góc xương hàm dưới), đồng ứng (vùng đầu
mũi).
6)
Viêm thanh đới:
Rè hoặc mất tiếng, thường sau một trận cảm. Điều trị: 127, 50, 19, 37, 1, 0 - +,
Tiêu viêm, vùng từ 19 đến 173.
Phải
chẩn đoán hàn nhiệt để có kỹ thuật tương ứng. Có khi hàn nhiệt lẫn lộn thì cần
trị theo hàn trước rồi nhiệt sau, cần đề phòng trường hợp viêm do nhiễm trùng.
Cách nhận biết viêm do nhiễm trùng: đau, có sốt đôi khi sốt cao, chữa bằng Diện
Chẩn không có hiệu quả hay hiệu quả kém và trở bệnh lại ngay sau chừng 30 phút.
1.2. VIÊM MŨI
Viêm
mũi khá phức tạp, có 4 nguyên nhân điển hình: viêm mũi do hàn, viêm mũi do
nhiệt, viêm mũi do hàn nhiệt lẫn lộn, viêm mũi do mùi bụi (kháng nguyên). Viêm
mũi thường có 2 kiểu: dạng không nghẹt và dạng có nghẹt. Tuy nhiên trên thực tế
may mắn lắm ta mới gặp một bệnh nhân viêm mũi chỉ có một nguyên nhân, mà thường
là do 2 nguyên nhân trở lên và kiểu viêm thì tổng hợp.
1)
Viêm mũi do hàn:
hắt hơi khi gặp yếu tố lạnh như sáng sớm, chiều tối, mưa hay gió lạnh. Có thể
sổ mũi nhưng đặc điểm là nước mũi loãng như nước không nhầy nhớt. Điều trị: dán
bộ Thăng, lưu dán 2 giờ.
2)
Viêm mũi do
nhiệt: triệu chứng xảy ra khi gặp yếu tố nóng (ngược lại với ở trên). Nước
mũi có chất nhầy nhớt. Điều trị: day vaseline hoặc rung huyệt bộ Giáng hoặc bộ
Tiêu viêm, cào hoặc lăn gai nhẹ phản chiếu mũi. Lưu ý về viêm nhiễm trùng.
3)
Viêm mũi do hàn
nhiệt lẫn lộn: hắt hơi sổ mũi khi thay đổi yếu tố nhiệt độ hoặc môi trường,
nhiệt độ thời tiết. Nếu nặng có thể chỉ cần từ nơi nắng vào nơi bóng mát hoặc
từ bóng mát ra nơi có nắng cũng đều hắt hơi và sổ mũi. Điều trị: chia làm 2
giai đoạn, giai đoạn đầu dùng bộ Bổ trung bằng dầu và phản chiếu mũi, giai đoạn
sau day vaseline bộ Tiêu viêm và phản chiếu mũi.
4)
Viêm mũi do dị
nguyên (do mùi hoặc bụi): hắt hơi sổ mũi khi gặp dị nguyên. Dị nguyên có
thể là bụi đường, bụi khói xe, bụi mốc có trong vật dụng cũ, bụi trong
nhà, lông thú vật, phấn hoa, mùi hóa chất. Điều trị: cũng chia làm 2 giai đoạn.
Giai đoạn đầu điều trị như viêm mũi dạng hàn, giai đoạn sau dùng bộ
Giáng phối hợp bộ Tiêu viêm và cào phản chiếu mũi.
Nêu trên là dạng không
nghẹt.
5)
Viêm mũi
dạng nghẹt: triệu chứng chủ yếu là nghẹt mũi, có thể kèm hắt hơi sổ
mũi. Đây là dạng khó trị nhất vì có polyp trong mũi (dân gian thường gọi là
thịt dư trong mũi, Đông Y gọi là Tỵ Trĩ), vừa có tính viêm phù nề vừa viêm xung
huyết, vừa mang tính dị ứng rất đa dạng, thậm chí có khi có ảnh hưởng của yếu
tố thần kinh, tinh thần. Nếu chỉ viêm phù nề thì tương đối dễ chữa, cần Tiêu
viêm Lọc thấp phản chiếu polyp bằng dầu. Viêm xung huyết thì dai dẳng hơn, cũng
Tiêu viêm phản chiếu polyp nhưng không dùng dầu, kết quả rất hạn chế. Đây là dạng
phức tạp nhất nên hiệu quả kém và cần luôn thay đổi phác đồ kỹ thuật đối
phó với diễn biến hằng ngày.
Kiêng cữ: lạnh thì
cữ lạnh, nhiệt thì cữ nóng, do kháng nguyên và có polyp thì tránh các kháng
nguyên và lạnh – chua - gà - mắm - nếp - tôm cua - rau muống.
KẾT LUẬN: Trên lâm sàng ít khi gặp trường hợp điển hình như
đã nêu mà thường có sự pha tạp nhau. Cần theo dõi triệu chứng mỗi ngày và biến
đổi theo triệu chứng dựa vào các nguyên tắc nêu trên để đối phó triệu chứng kèm
với điều trị gốc bệnh./.
PHÁC ĐỒ TỔNG QUÁT
ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI:
Giữa
năm 2007, tôi lại nghiên cứu ra một phác đồ chữa mọi thể loại viêm mũi, hiệu
quả khá cao. Không cần chẩn đoán chi tiết như trên mà chỉ cần phân định hàn
nhiệt mà thôi. Nay bổ sung vào bài này để các bạn dùng: 108, 312, 1, 64, 3, 34,
324, 24, 26, 61, 37, 50, 38,156, cào tam giác Phế, phản chiếu mũi theo Đồ hình
Âm, Đồ hình Ngoại vi Vỏ Não (hai bên mang tai). Phác đồ này cũng có thể dùng
cho các BN vừa viêm mũi vừa viêm xoang, chỉ cần thêm phóng chiếu các xoang bị
viêm.
1.3.
VIÊM XOANG
Xoang
là những mảnh xương vùng mặt được cấu tạo không đặc mà đầy lỗ hang, có các dây
thần kinh và đặc biệt là máu ra vào rất nhiều. Xoang bị viêm khi nhiễm trùng
hoặc máu ứ lại và hoại tử trong nó. DC-ĐKLP điều trị bệnh này rất tốt vì ngoài
tính kháng viêm còn tính khai thông tuần hoàn huyết ở đây.
Tổng
cộng có 5 xoang: xoang hàm trên, xoang trán, xoang sàn trước, xoang sàn sau,
xoang bướm. Ngoài ra trên thực tế ta thấy thỉnh thoảng có bệnh nhân bị viêm cả
xương sóng mũi, tuy nhiên đây không phải là xoang. Trên thực tế người ta hay
dùng từ VIÊM XOANG MŨI. Khi viêm hai xoang trở lên thì gọi là viêm đa xoang. Đa
số bệnh nhân bị viêm đa xoang.
Triệu
chứng: nhức đầu. Nhức đầu nhẹ có thể chịu được hoặc lâu lâu mới có nhức
đầu, kèm các xoang bị mờ trên phim X quang là viêm mãn. Nhức đầu mạnh đôi khi
không chịu được kèm sốt là viêm cấp. Nếu có sổ mũi là có kèm viêm mũi.
Chẩn
đoán: dùng đầu ngón tay ấn, thấy đau vùng phóng chiếu xoang nào là có viêm
xoang đó, riêng với xoang sàn sau thì phải dùng cây cào nhỏ hoặc que dò quẹt
nhè nhẹ mà thấy đau là có viêm xoang sàn sau. Trước khi ấn vào vùng xoang nên
ấn thử vào các vùng không liên quan để so sánh, cẩn thận với các trường hợp
viêm đã lâu, có thể gây sụp xương khi ấn mạnh tay.
Lưu
ý: Hiện nay, một số BS Tai-mũi-họng thường kết luận “viêm xoang mũi” khi có
triệu chứng nghẹt, sổ mũi thường xuyên rồi thỉnh thoảng nhức đầu (do trùng hợp
khi bị cảm) – vì phim xoang khó xem nhất trong các chẩn đoán hình ảnh nếu không
có mũ nặng; và đối với tây-y thì viêm gì ở đâu cũng dùng kháng sinh, giảm đau
cả, nên kết luận này là tiện nhất cho họ !! Kết luận này khiến một số học viên
DC chỉ lo trị xoang mà không trị mũi và dĩ nhiên mũi không khỏi được. Vì mũi và
xoang như láng giềng của nhau chớ không phải là một nhà. Có khá nhiều trường
hợp viêm xoang đã lâu nhưng mũi không bị gì và ngược lại. Vì vậy cần chẩn đoán
rõ: viêm mũi thì phải có ít nhất 1 trong 3 triệu chứng: hắt hơi, sổ mũi, nghẹt
mũi. Viêm xoang: nhức đầu và ấn đau các vùng xoang. Tôi “bị” hỏi về trường hợp
này rất nhiều!
Có
một số trường hợp thỉnh thoảng nhức đầu, X quang hay cắt lớp không thể hiện rõ
ràng xoang bị viêm, nếu ấn khám như trên không thấy đau thì có thể nhức đầu do
kinh mạch bế tắc. Kiểu đau đầu này chỉ trị được bằng huyệt, đôi khi cần kết hợp
nhiều trường phái với nhau mới xong; thuốc Tây hay
Điều
trị: bộ Tiêu Viêm là chủ lực, phóng chiếu các xoang..
1)
Điều trị viêm xoang mãn: Hàn chứng thì day có dầu bộ Tiêu viêm khử ứ (trong 3-5
lần đầu, sau đó chỉ nên dùng bộ Tiêu Viêm), 300, cào có dầu phóng chiếu các
vùng xoang. Nhiệt chứng: day bộ huyệt nêu trên không có dầu, lăn đinh
hay lăn gai các vùng xoang ít nhất 50 lượt.
2)
Điều trị viêm xoang cấp: Khi viêm xoang mãn thỉnh thoảng xoang bị viêm cấp thì bệnh nhân
có sốt. Cần chẩn đoán hàn nhiệt để dùng kỹ thuật thích hợp. Hàn chứng
thì cần hơ nóng và xoa dầu theo phác đồ nêu trên 3 lần mỗi huyệt và vị trí các
xoang; khi hết sốt thì ngưng hơ và điều trị tiếp theo viêm mãn do hàn. Nhiệt
chứng thì đây là có thể có nhiễm trùng, dùng nước đá áp lạnh hoặc lăn đinh
và kết hợp với kháng sinh- do BS chỉ
định- hoặc vạch theo 8 vùng phản chiếu bạch huyết cho nhanh. Sau khi bệnh
nhân hết sốt thì ta lại điều trị theo cách trị viêm xoang mãn. Không nên hơ hay
áp lạnh thêm, có thể gây hậu quả không tốt cho bệnh nhân sau này.
LƯU
Ý: trong xoang đang bị viêm thường có mủ, các lỗ thoát ra không
nhiều và rất nhỏ, khi dùng ngải cứu hơ, mủ có thể bị cô đặc lại và khô cứng,
không thể thoát ra cũng như rất khó tiêu đi. Tuy cách hơ có hiệu quả cao trong
các bệnh do hàn, nhưng lại không an toàn trong viêm xoang. Do đó, bạn nào đã
từng chữa viêm xoang hẳn đã có lúc thất bại mà không biết do đâu. Vì bệnh nhân
thường biến mất sau vài lần điều trị!!!
KIÊNG CỮ: kiêng tuyệt đối các
thức ăn uống sau: các thức từ tủ lạnh, các thức chua, gà, mắm, nếp.
Trung
bình từ 3 đến 7 lần điều trị là bệnh nhân hết nhức đầu. Nhưng các xoang
chưa khỏi viêm hẳn, cần điều trị tiếp cho đến hết sinh huyệt các vùng xoang.
Được như vậy, bệnh nhân mới khó tái phát bệnh. Tuy nhiên cần kiêng cữ thức lạnh
và thức gây viêm lâu dài vài tháng sau đó.
Khi
điều trị xong, bệnh nhân có thể ăn uống bình thường nhưng không nên lạm dụng
các thức lạnh và các thức gây viêm như đã nêu trên. Vì cơ thể bệnh nhân kém
chịu đựng các loại thức ăn uống này.
1.4. VIÊM PHẾ QUẢN VÀ HEN PHẾ QUẢN
Phải nói là viêm
phế-khí quản mới đầy đủ nhưng thực tế người ta thường gọi là VIÊM PHẾ QUẢN.
Trong cơ thể hai bộ phận này riêng biệt nhau và có lúc viêm riêng lẻ nhưng
đa số hễ viêm khí quản thì kèm viêm phế quản và các tiểu phế quản (nằm trong
vùng phổi), hoặc ngược lại.
Ho
là triệu chứng ban đầu, sau vài ngày không giảm có thể sẽ gây đau họng. Có đàm
ít hay nhiều. Nghe Phổi có tiếng ran hoặc cả ran lẫn rít. Sốt nếu viêm cấp,
không sốt trong trường hợp viêm mạn tính, nhưng khi viêm mạn thì thường dễ bị
những đợt viêm cấp xen kẽ. Cần chú ý hiện tượng này để có giải pháp đúng kịp
thời. Vì nếu viêm cấp mà trị theo viêm mạn thì không hiệu quả, nếu viêm mạn mà
trị theo viêm cấp thì lại hại cho tổng trạng bệnh nhân.
Viêm
phế quản mạn tính rất dễ chuyển thành hen phế quản (ngày nay người ta dùng
thuật ngữ hội chứng thuyên tắc phổi, hội chứng ho-khó thở phổi, hội chứng
tắc nghẽn phổi, hội chứng tắc nghẽn hô hầp phổi để chỉ tất cả triệu chứng
khó thở tại phổi và phế khí quản). Điều này riêng cá nhân tôi thấy rằng định
nghĩa ngày xưa đúng hơn vì suyễn thì không có đàm mà hen thì bắt buộc phải có
đàm dù có thể rất ít, đôi khi ít đến mức bệnh nhân không cảm thấy có đàm, nghe
phổi cũng không rõ nét lắm, nhất là khi thể trạng bệnh nhân đã suy kiệt. Và
trong thực tế, đối với Đông-y, nguyên nhân và cách điều trị hen và suyễn
hoàn toàn khác nhau (nhất là điều trị bằng phương pháp Diện Chẩn) dù rằng hiện
tượng bệnh đều thể hiện ở phổi, trình bày trong bài Hen Suyễn.
1)
Viêm Phế quản:
triệu chứng đặc trưng là ho, thông thường là có đàm, nếu ho nhiều thì kèm đau
họng. Dùng bộ Tiêu viêm, phản chiếu khí phế quản, hàn (rất thường gặp) thì
làm ấm nóng bằng dầu hay ngải cứu, nhiệt (ít gặp) thì day bằng vaseline và lăn
gai. Nếu đàm nhiều thì nên dán cao vài lần. Lưu dán 2 giờ mỗi ngày, cũng không
nên lạm dụng kỹ thuật này khi đàm giãm vì gây khô đàm khó long đàm khi ho làm
BN bị mệt vì phải ho khạc mạnh lâu. Nếu viêm cấp thì có sốt. Hàn chứng
thì phải dùng ngải cứu hơ – xức dầu rồi dán cao phác đồ như trên (chỉ áp dụng cho bị
cấp tính mà thôi. Mãn tính tuyệt đối không dùng). Nhiệt chứng là có
thể có nhiễm trùng, nên phối hợp với kháng sinh, về thuốc tây nên khuyên bệnh
nhân theo ý kiến bác sĩ vì thuốc tây không thuộc lãnh vực của chúng ta (chúng
ta không rành thuốc tây bằng bác sĩ).
Viêm họng và viêm phế quản:
Viêm phế quản, đặc trưng phải có ho
kèm không đau họng kèm theo có đàm nhiều, phải tiêu viêm kèm trừ thấp 1 or 2
lần thôi, không nên lạm dụng.
Viêm họng thì vừa viêm họng vừa ho.
Nhưng chưa chắc viêm phế quản.
Bộ tiêu viêm cho tất khi có liên quan
đến viêm
Có
một số trường hợp bệnh nhân chỉ ho vài cơn trong ngày, trị bằng nhiều phương
thức không khỏi. Trước khi ho là ngứa họng dữ dội, ho khan một lúc lâu cho đến
khi khạc ra được một ít nhớt hay một hạt đàm chừng bằng hạt gạo mới ngưng ho.
Nghe phổi thấy bình thường. Đây cũng là viêm Tiểu Phế Quản nhưng vùng viêm rất
nhỏ mà lại sâu. Dán Tiêu viêm, dò tìm sinh huyệt vùng bị viêm. Lưu dán 2 giờ.
Hen phế quản: khi viêm phế quản
lâu ngày mà không điều trị dứt được, bệnh có thể chuyển sang thể nặng hơn gọi
là hen phế quản. Triệu chứng gồm có ho - ít hay nhiều tùy trường hợp, tiếp
theo ngay sau đó là nghẹt thở. Cách điều trị như viêm phế quản, vì bản chất là
một chỉ khác nhau cấp độ. Khi phế quản bớt viêm thì cũng giảm ho giãm nghẹt thở
dần.
Nêu trên là hai trường
hợp còn có thể chữa được có hiệu quả và xác suất thành công cao . Ngoài ra còn
có các bệnh chứng cũng từ viêm phế quản mà ra nhưng rất nặng, chúng ta khó thành
công và ngay cả bệnh viện trị cũng rất khó khăn: dãn phế quản, tâm phế mạn.
Kiêng cử trong bệnh viêm, hen phế
quản:
- Về thời tiết: không
để bị cảm lạnh hay nóng.
- Về ăn uống: kiêng
tuyệt đối chất chua, gà, mắm, nếp, chất lạnh (bệnh thuộc hàn), nóng (bệnh thuộc
nhiệt).
1.5. ĐÔI ĐIỀU VỀ HEN SUYỄN
Thông
thường người ta hay gọi chung triệu chứng khó
thở ngộp thở là hen suyễn. Trước đây khoảng vài chục năm – thập niên 60, y học
chia làm hai loại với hai triệu chứng khác nhau khá rõ là: HEN thì vừa khó thở
vừa có đàm kéo khò khè, nghe phổi vừa có tiếng ran vừa có tiếng rít. SUYỄN thì
chỉ khó thở mà không có đàm, nghe phổi chỉ có tiếng rít mà không có tiếng ran.
Không hiểu vì lý do gì mà gần đây người ta lại gộp chung hen và suyễn lại thành
HEN SUYỄN, HỘI CHỨNG TẮC NGHẼN PHẾ QUẢN PHỔI (trong bệnh danh này còn gồm các
chứng khó thở có nguyên nhân hóa lý như bụi phổi, dị ứng hô hấp do hóa chất
trong các bệnh nghề nghiệp) và không còn phân biệt có đàm hay không có đàm nữa.
Theo nhận định riêng của tôi thì định nghĩa trước đây về Hen, Suyễn là đã chính
xác. Vì thực tế cho thấy nếu căn cứ theo Đông y thì hen và suyễn có những triệu
chứng và nguyên nhân gây bệnh khá khác nhau cũng như cách điều trị rất khác.
Nổi bật nhất là nếu điều trị theo các phương pháp sữ dụng huyệt thì phương
huyệt khác xa nhau (thể hiện rất rõ khi dùng DC-ĐKLP).
Cũng
theo kinh nghiệm riêng của tôi thì HEN là một tiến triển nặng của viêm phế quản
mạn tính mà gốc và ngọn đều ở phổi (Phế) chỉ lệ thuộc vào môi trường khí hậu,
dĩ nhiên các tạng phủ khác có ảnh hưởng đến nhưng chỉ là gián tiếp thông qua
thể trạng chung – đã trình bày trong bài Viêm Phế Quản. Còn SUYỄN là một bệnh
có ngọn ở phổi nhưng gốc có thể ở xa như ở can, tâm, thận, tỳ, tiểu trường,
vị……v.v.. Đặc điểm là khi lên cơn khó thở không có đàm (nghe phổi chỉ có
tiếng rít thuần túy), lên cơn thường có quy luật cố định (về thời khí, về ăn
uống hoặc về tinh thần) và kèm với một triệu chứng thuộc nội tạng khác. Chẩn
đoán và điều trị SUYỄN thì hoàn toàn theo biện chứng Đông y. Trong khi HEN
phế quản thì lại chẩn đoán và điều trị theo biện chứng Tây y. Đây là
một điều rất thú vị với tôi khi nghiên cứu và tìm ra giải pháp chẩn trị hai
bệnh chứng giống mà khác nhau này bằng DC. Sau đây, chỉ đề cập đến Suyễn còn
Hen được gộp với bài Viêm Phế Quản ở trên.
1.6. SUYỄN
Suyễn
theo Tây y là một bệnh thuộc loại dị ứng có nguyên nhân là sức đề kháng kém,
theo Đông y là do chính khí hư. Thực chất là cùng ý. Với Tây y thì điều trị
triệu chứng là chủ yếu.
Tuy
nhiên Đông y lại chữa trị tốt hơn vì cái nhìn về tổng thể bao quát hơn. Trong
đó khái niệm về Âm Dương, hàn nhiệt và ngũ tạng là đặc sắc riêng. Vì vậy bài
này chỉ trình bày phương hướng điều trị bệnh này theo DC kết hợp với y lý
Đông-y mà thôi.
Trên nền bệnh mạn tính (bệnh nhân có
bệnh, mệt, hô hấp khó khăn nhưng chịu được), thỉnh thoảng có những cơn suyễn
cấp ( bệnh nhân lên cơn khó thở hơn các lúc khác, khó thở và mệt không chịu
nỗi). Cơn suyễn cấp xảy ra khi gặp yếu tố bất lợi, thường do môi trường hay
sinh hoạt và không ngoài 4 yếu tố Âm- Dương- Hàn- Nhiệt gây ra. Cắt cơn suyễn
cấp khó nhất là do khi Âm hay Huyết suy đột ngột.
Trong cắt cơn suyễn cấp đột xuất, theo Đông y có 4 thể: thực hàn, thực nhiệt, hư
hàn, hư nhiệt.
-
Thực nhiệt: triệu chứng dữ dội, bệnh tăng khi gặp yếu
tố nóng, người nóng. Yếu tố thuộc nóng như thời tiết nóng, độ ẩm thấp (hanh
khô), món ăn nóng (nhiều năng lượng) như chocolate, các loại trái cây có
vị ngọt đậm. Điều trị: tả nhiệt mạnh bằng bộ Giáng, phản chiếu hệ hô hấp, về kỹ
thuật thì tùy mức độ bệnh tùy thể trạng bệnh nhân mà chọn cho thích hợp. Kiêng cữ:
các yếu tố nóng.
-
Thực hàn: triệu chứng dữ dội, bệnh tăng khi gặp yếu tố
lạnh, người lạnh. Yếu tố lạnh như thời tiết lạnh, độ ẩm cao (ẩm ướt), ăn uống
thức lạnh (nước đá, nước ướp lạnh), món ăn ít nhiệt lượng như các loại rau, quả
không ngọt lại nhiều nước như các loại dưa… Điều trị: tả hàn mạnh bằng bộ
Thăng, phản chiếu hệ hô hấp. Về kỹ thuật thì tùy chọn cho thích hợp. Kiêng cữ:
các yếu tố lạnh, các yếu tố ẩm ướt.
-
Hư nhiệt: cơn suyễn nhẹ, mệt nhiều, tăng khi gặp yếu tố
nóng hoặc làm việc quá tải. Day bộ Giáng, nếu không thành công day tiếp Bổ Âm
Huyết. .
-
Hư hàn: cơn suyễn nhẹ, mệt nhiều, tăng khi gặp yếu tố
lạnh hoặc làm việc quá tải. Dùng Bổ Âm Huyết, kỹ thuật day dầu hay hơ tùy tình
hình.
Cách phân định này dùng trong việc cắt cơn suyễn đang lên cao. Điều trị
lâu dài thì khác.
Sau khi cắt cơn cấp tính thành công, cần điều trị tiếp cho dù không còn
lên cơn cho đến khi khỏi các hiện tượng bệnh của tạng phủ kinh mạch gốc gây bệnh,
đối với DC thì còn cần mất các sinh huyệt đã tìm ra liên quan gốc bệnh (các tạng
phủ kinh mạch khác với Phế) và ngọn bệnh (tạng Phế và kinh Phế).
Trong
điều trị lâu dài (trị tận gốc), cần tìm gốc bệnh dựa theo triệu chứng
của tạng phủ, kinh khí của các tạng phủ đó, các ảnh hưởng của môi trường thời
tiết, các ảnh hưởng tinh thần tâm lý. Phân biệt thực và hư bằng triệu
chứng bệnh của tạng phủ kinh mạch, ngũ hành chính vị và xung khắc. Tuy nhiên
cần lưu ý về khía cạnh âm dương, khí huyết là 4 yếu tố căn bản của cơ thể, hàn
nhiệt hư thực là 4 hiện tượng của chứng bệnh. Loại bệnh này phức tạp, cần vốn y
lý Đông Y và kinh nghiệm dồi dào để phân định chẩn đoán chính xác. Chẩn được
thì trị được, mà chẩn lại khó hơn.
THÍ DỤ:
-
Lên cơn khi gặp gió, khi tức giận, khi ăn vị
chua – vị cay (Can hợp với Tỳ gây bệnh), vào mùa Xuân, mùa Thu, vào giờ Sữu,
giờ Mùi (Tiểu tràng hợp bệnh)…v.v.. Là liên quan đến Can.
-
Lên cơn khi gặp nóng, khi vui mừng thái quá, khi
ăn vị khét - vị đắng (Tâm Tỳ hợp bệnh), vào mùa Hạ, vào giờ Ngọ, giờ Tý (đởm
hợp bệnh)…... Là liên quan đến Tâm.
-
Lên cơn khi gặp ẩm ướt hay khô hanh, khi lo
nghĩ, sau khi ăn xong, vào mùa Trưởng hạ hay vào mùa mưa, vào giờ Tỵ, giờ
Hợi…v.v.. Là thuộc Tỳ.
-
Lên cơn khi thời tiết thay đổi đột ngột, gặp mùi
lạ, khi buồn rầu, khi ăn vị cay (Phế Tỳ hợp bệnh), vào mùa Thu, vào giờ Dần,
giờ Thân. Là liên quan tới Phế.
-
Lên cơn khi bị lạnh, khi sợ hãi, khi ăn vị mặn
nhiều (Thận Tỳ hợp bệnh) là liên quan tới Thận.
Ở đây tôi chỉ đề cập
đến các tạng, còn phủ thì sao ? Với phủ thì cũng tương tự như vậy chỉ khác giờ
lên cơn mà thôi. Như với các triệu chứng của Mộc nhưng giờ lên cơn là giờ Tý –
Ngọ thì ta phải nghĩ đến phủ Đởm chứ không phải tạng Can. Nhưng đừng quên Can
Đởm là biểu lý. Tương tự cho các phủ khác.
Vậy,
đối với bệnh suyễn ta cần phân biệt hàn nhiệt hư thực và tạng phủ kinh mạch nào
bị trục trặc để điều chỉnh lại cho cân bằng dựa theo nguyên tắc HƯ THÌ BỔ, THỰC
THÌ TẢ. Bệnh hàn thì dùng ôn pháp (làm ấm), bệnh nhiệt thì dùng lương pháp (làm
mát). Và như vậy không thể có phác đồ đặc hiệu cho bệnh Suyễn mà chỉ có phương
án điều trị cho bệnh Suyễn mà thôi, vì cơ thể bệnh nhân và căn nguyên bệnh
không ai giống ai.
Vì thế không có phác đồ
mà chỉ có nguyên tắc điều trị: dựa theo triệu chứng của Đông y mà chẩn đoán
tạng phủ gốc bị bệnh hư hay thực, điều chỉnh tạng phủ đó là chính.
Bổ
khí cho tạng phủ: 127, 7 - +, 50, 19, 37, 1, 0 - +, phản chiếu tạng phủ. Nếu
muốn bổ Dương thì làm ấm các huyệt.
Tả
khí cho tạng phủ: 124 + -, 34 + -, 106, 26, 61 + -, 156 + -, phản chiếu tạng
phủ.
Bổ Âm bổ Huyết cho tạng phủ thì dùng
Bổ Âm Huyết, chỉ thay đổi kỹ thuật cho thích hợp với hàn nhiệt.
Thí
dụ: Nếu do Can khí thực thì tả Can: 124 + -, 34+ -, 106, 26, 61+ -, 156+ -,
233, 50, 41. Nếu do Can khí hư thì bổ Can khí: 127, 7 - +, 50, 19, 39, 37, 1, 0
- +, 41, 233, 50. Nếu do Can huyết hư thì dùng bộ Bổ Âm huyết, phản chiếu gan.
Tương
tự cho các tạng phủ khác.
Một số trường hợp lại cần phối hợp với 4
huyệt Tỉnh, Nguyên, Bối du, Mộ của các
kinh liên quan mới thành công hoàn toàn (theo Thể Châm).



Nhận xét
Đăng nhận xét